- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị H và anh T"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: - Điều 56; Điều 57; Điều 73; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HNGĐ -ST Ngày 30/09/2022 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO – TỈNH HƢNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Đức Hượng.
2. Bà Đặng Thị Tuyết Hương.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào tham gia phiên toà: Ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số 29/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/ 9/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/9/2022, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Vũ Lệ H, sinh năm 1989 (Có mặt). HKTT: Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh L.
* Bị đơn: Anh Vũ Xuân T, sinh năm 1991 (Vắng mặt). HKTT: Thôn H, xã H1, thị xã M, tỉnh H.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu Vũ Nhật L, sinh ngày 10/10/2013 (Vắng mặt). HKTT: Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh L. Chỗ ở: Thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh H.
+ Người đại diện theo pháp luật cho cháu Long: Anh Vũ Xuân T, sinh năm 1991 (Vắng mặt). HKTT: Thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh H.
* Người làm chứng: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1968 (Vắng mặt).
HKTT: Thôn H, xã H1, thị xã M, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Lệ H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Xuân T đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phong, huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào) năm 2013 và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau đó chị về chung sống bình thường cùng anh T tại gia đình nhà anh T tại xã Hòa Phong. Trong quá trình chung sống, giữa chị và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, thời điểm mâu thuẫn đầu năm 2015 và đến giữa năm 2015 thì vợ chồng ly thân, không ai quan tâm đến ai, việc của ai người ấy lo, thu nhập của ai người đó quản lý. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống, không thống nhất trong việc làm ăn xây dựng kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra to tiếng, cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Chị và anh Vũ Xuân T có 01 con chung là cháu Vũ Nhật L, sinh ngày 10/10/2013, hiện tại cháu L đang ở với anh T và ông bà nội tại thôn Hòa Đam, xã Hòa Phong. Do vợ chồng mâu thuẫn nên vào năm 2021 chị và cháu L đã chuyển khẩu về Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh L. Tuy nhiên, hiện cháu L đang ở ổn định với anh T tại xã H, thị xã M. Hiện tại chị H đang thuê trọ tại số nhà 57, ngõ 71 T, phường P, quận B, thành phố H, chị phải trả số tiền thuê nhà hằng tháng là 3.000.000đ, ngoài ra còn tiền điện, tiền nước, tiền ăn và các khoản chi phí khác. Với mức thu nhập trên ở Hà Nội thì cố gắng lắm thì chị cũng chỉ đủ sinh hoạt cá nhân nên chị nghĩ rằng thời điểm này mà chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu L sẽ không đảm bảo quyền lợi chính đáng cho cháu. Đối với anh T, hiện tại cũng có công việc và thu nhập ổn định nên đủ điều kiện trang trải cuộc sống và nuôi dạy cháu L đến khi thành niên. Đối với cháu L thì thực tế đang ở với anh T và có sự hỗ trợ của ông bà nội. Nguyện vọng của cháu L ở với bố hoặc mẹ đều được. Cháu L đang ăn, ở, học hành ổn định tại thôn H, xã H1, thị xã M, tỉnh H. Quan điểm của chị là không muốn đảo lộn nơi ở, sinh hoạt và học hành và cuộc sống của cháu L. Vì vậy, khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu L cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu L đến khi thành niên. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu L cho anh T hàng tháng số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ tháng đến khi cháu Long thành niên. Còn nếu trường hợp anh T không nhận nuôi dưỡng cháu L thì chị sẽ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L đến khi thành niên và chị tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu.
Về tài sản, vay nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Chị H tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không có ý kiến gì. Vì vậy, không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
* Bị đơn là anh Vũ Xuân T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định vợ chồng có mâu thuẫn và việc ở với nhau hay không là do chị H quyết định.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Nhật L, sinh ngày 10/10/2013. Nếu chị H không nuôi dưỡng cháu thì tôi nhất trí với ý kiến của chị H là tôi sẽ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L và chị H cấp dưỡng số tiền 2.000.000đ/tháng đến khi thành niên.
Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Chị H tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không có ý kiến gì về vấn đề này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cháu Vũ Nhật L trình bày: Nếu trường hợp bố mẹ cháu không ở được với nhau thì cháu ở với bố hoặc mẹ đều được vì bố mẹ đều thương yêu cháu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hòa giải nhưng anh Trường vắng mặt nên không hòa giải được, do đó phải đưa vụ kiện ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay: Vắng mặt bị đơn anh Vũ Xuân T, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Vũ Nhật L, vắng mặt người làm chứng bà Phạm Thị X.
Nguyên đơn chị Vũ Lệ H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị H và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành mở phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử độc lập, Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị H và xử cho chị H được ly hôn với anh T; Về con chung: Giao cháu Vũ Nhật L cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và ghi nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng hàng tháng nuôi cháu L số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ tháng, đến khi cháu L thành niên. Về tài sản, vay nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh T và chị H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phong, huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Yên năm 2013 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn là đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Nay chị H khởi kiện xin ly hôn với anh T nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn là anh T có địa chỉ tại thôn Hòa Đam, xã Hòa Phong, thị xã Mỹ Hào nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn anh T; vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu L; vắng mặt người làm chứng bà X nhưng đều đã có đơn và lời khai đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt tất cả những người này là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Lời trình bày của chị H, anh T và bà X đã thể hiện rõ trong quá trình chung sống giữa anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, thời điểm mâu thuẫn vào năm 2015. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không hợp nhau về quan điểm sống và thực tế anh chị ly thân nhau từ giữa năm 2015 cho đến nay. Nay chị H xác định cuộc sống không hạnh phúc, mâu thuẫn đã quá trầm trọng và kéo dài, không thể hàn gắn và chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đối với anh T, cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn và việc ly hôn là do chị H quyết định nhưng anh T không đưa ra được biện pháp để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng mà thực tế vẫn đang ly thân nhau, tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Điều đó đã cho thấy tình cảm yêu thương gắn bó giữa anh chị không còn, phản ánh đúng thực trạng hôn nhân của vợ chồng là mâu thuẫn đã trầm trọng, có đầy đủ căn cứ cho ly hôn. Vì vậy, Tòa án sẽ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H và giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Vũ Nhật L, sinh ngày 10/10/2013. Xét quan điểm của chị H về việc giao cháu L cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Hội đồng xét xử, xét thấy: Đối với chị H có công việc nhưng mức thu nhập mới chỉ đảm bảo trang trải cuộc sống của chị; đối với anh T có công việc và thu nhập. Đối với cháu L có quan điểm nếu bố mẹ không ở được với nhau thì cháu ở với bố hoặc mẹ đều được. Thực tế cháu L đang ở với anh T, học hành ổn định và có sự hỗ trợ của ông bà nội. Nên cháu L tiếp tục ở với anh T là phù hợp và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu L cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và ghi nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng hàng tháng nuôi cháu Long số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ tháng đến khi cháu L thành niên.
Về tài sản, về nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Chị H tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không có ý kiến gì về các vấn đề này. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này anh, chị có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Vũ Lệ H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: - Điều 56; Điều 57; Điều 73; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Lệ H. Xử cho chị Vũ Lệ H được ly hôn anh Vũ Xuân T.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Nhật L, sinh ngày 10/10/2013 cho anh Vũ Xuân T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H cấp dưỡng hàng tháng nuôi cháu Long số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu L thành niên.
Chị Vũ Lệ H có quyền thăm và chăm sóc con chung; không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con chung: Chị Vũ Lệ H và anh Vũ Xuân T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
3. Về tài sản, vay nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Buộc chị Vũ Lệ H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000đ chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0013102 ngày 24/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Chị H đã nộp xong án phí sơ thẩm ly hôn và còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Mỹ Hào; - Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào; - Phòng KTNV và THA - Toà án tỉnh Hưng Yên; - Các đương sự; - UBND xã Hòa Phong; - Lưu HS vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trƣơng Thế Dƣơng |