- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mỹ O ly hôn Bùi Viết P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/ 2022/ HNGĐ - ST Ngày: 29/8/2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
---------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Dũng
2. Bà Lại Thị Thúy Hằng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 130/2022/TLST–HNGĐ ngày 22/3/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/7/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 73/2022/QĐST-HNGĐ giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Mỹ O, sinh năm: 1993
Hộ khẩu thường trú: Tổ 5, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Chổ ở: số 26 đường T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: anh Bùi Viết P, sinh năm: 1988
Địa chỉ: tổ 2, ấp L, xã X, huyện C, Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Bùi Viết P tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn năm 2017 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 02/12/2017.
Sau khi khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng và tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn anh P.
Về con chung: Anh chị có 01 người con chung: Bùi Trần Khả H, sinh ngày 22/05/2018. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khả H và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Bùi Viết P vắng mặt nên không có lời khai.
* Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phát biểu ý kiến:
+ Việc tuân theo pháp luật thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: cho chị O ly hôn anh P; giao cháu Khả H cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng; tạm thời anh P không cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung: không xem xét, giải quyết; về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: chị Trần Thị Mỹ O có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết vấn đề con chung với anh Bùi Viết P và anh P hiện đăng ký hộ khẩu tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Như vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
Về tư cách tham gia tố tụng: chị O có đơn yêu cầu ly hôn anh P nên chị O là nguyên đơn, anh P là bị đơn trong vụ án.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Viết P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh P vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: chị O và anh P kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn theo chị O nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Anh P vắng mặt nên không có lời khai về mâu thuẫn vợ chồng. Chị O yêu cầu ly hôn vì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng và anh P đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết việc ly hôn nhưng anh P không đến làm việc nên nhận thấy anh không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, anh chị không có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị O.
Về con chung: chị O yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khả H, anh P vắng mặt nên không có ý kiến về con chung. Mặt khác, khi vợ chồng ly thân thì cháu H sống với mẹ nên giao cháu Khả H cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị O không yêu cầu và anh P vắng mặt nên không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm thời anh P không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị O không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: chị O khai không có và cũng không có ai có đơn yêu cầu giải quyết về nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: chị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội Đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ O.
1. Cho chị Trần Thị Mỹ O được ly hôn anh Bùi Viết P.
2. Về con chung: giao cháu Bùi Trần Khả H, sinh ngày 22/5/2018 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: tạm thời anh P không cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, chị O, anh P vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Anh P có quyền đến thăm con không ai được ngăn cản. Khi cần thiết các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.
5. Về nợ chung: không xem xét, giải quyết.
6. Về án phí: chị O phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí LHST nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí mà chị Như đã nộp tại biên lai số 0001117 ngày 11/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Chị O đã nộp đủ án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai - Viện kiểm sát H. Cẩm Mỹ; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ; - UBND xã T; - Đương sự; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Trung |