- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn do mâu thuẫn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 70/2022/HNGĐ-ST Ngày: 04/03/2022 |
HUYỆN AN PHÚ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phan Phước Tân; 2/ Bà Dương Thị Thúy Duy Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên. Trong ngày 04 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 233/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/01/2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Hùynh Thị L, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Tổ 34, ấp B, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Lô 02, Khu dân cư ấp T, thị trấn L, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2021 cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Hùynh Thị L trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông P xác lập thông qua mai mối vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện An Phú ngày 02/10/2018. Sau khi kết hôn hai bên chung sống hạnh phúc, đến tháng 4/2020 phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống do ông P bỏ bê, không quan tâm chăm sóc vợ con. Sau đó hai bên không còn sống chung, bà về nhà mẹ ruột ở Nhơn Hội sống cho đến nay, trong thời gian này ông P cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng và cả hai cũng không còn quan tâm, chăm sóc hoặc liên lạc nhau. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn V sinh ngày 25/8/2018 đang do bà nuôi dạy. Ly hôn bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thông báo thụ lý, hòa giải cũng như thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông P theo quy định nhưng ông vắng mặt và không có ý kiến. Tại phiên tòa, bà L có đơn xin xét xử vắng mặt và bảo lưu ý kiến. Ông P vắng mặt mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02. Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, tại phiên tòa thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo. Về nội dung vụ án: - Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân giữa ông P và bà L có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận yêu cầu của bà L. - Về con chung: Cháu V đang sống cùng bà L. Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển, ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt và điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của bà L và con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao cháu V cho bà được tiếp tục nuôi dạy. - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà L không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. - Về tài sản chung, nợ chung: Do bà L không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Hùynh Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn P. Đồng thời, ông P có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú. [2] Về việc vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà L và ông P có đăng ký kết hôn theo quy định nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu của bà L ly hôn với ông P cho thấy: Trong đời sống hôn nhân giữa hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên thường hay cải vã, mâu thuẫn tình cảm, cả hai đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm gia đình; mặc dù Tòa án đã cho thời gian hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng đến thời điểm hiện tại bà L kiên quyết ly hôn và vẫn bảo lưu ý kiến của mình, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà L và ông P đã thật sự trầm trọng không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [4] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn V sinh ngày 25/8/2018 đang do bà L nuôi dạy. Xét thấy cháu V đang sống bà L, có cuộc sống ổn định và được chăm sóc đầy đủ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L giao cháu V cho bà L được tiếp tục nuôi dạy. Bà L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. [5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định. [6] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà L và ông P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định. [6] Về án phí: Do yêu cầu của bà L được chấp nhận nên bà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: - Về hôn nhân: Bà Hùynh Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn P. - Về con chung: Bà Hùynh Thị L được tiếp tục nuôi dạy cháu Nguyễn Văn V sinh ngày 25/8/2018 hiện đang sống với bà.
Bà L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. - Về án phí: Bà Hùynh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0006555 ngày 26/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 78 cấp ngày 02/10/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện An Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật./. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM *
Nơi nhận: - TAND tỉnh AG (1); - VKS tỉnh AG (1); - VKS huyện AP (2); - UBND TT. L (1); - Các đương sự (2); - THADS huyện AP (1); - Lưu VP (1); Nguyễn Quang Bảo - Lưu HS (1). | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |