- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 70/2021/HS-ST Ngày 18 - 3- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn;
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2021 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXX-HS ngày 04/3/2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1987 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Thôn N, xã C, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn C, sinh năm: 1959 và bà Ngô Thị Th, sinh năm: 1963; bị cáo có vợ tên Trƣơng Thị S, sinh năm 1990; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1993; tiền sự: Không;
Tiền án:
1. Ngày 28/7/2017, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 240/2017/HSST chƣa xóa án tích.
2. Ngày 03/10/2018, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 181/2018/HSST chƣa xóa án tích;
Nhân thân: Ngày 12/9/2012 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12/5/2013 chấp hành xong hình phạt; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2020, có m t.
- Bị hại: Ông Vũ Duy Ngh, sinh năm 1968; địa chỉ: Số 141 đƣờng V, khu phố T, phƣờng Đ, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng m t.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Hồng V, sinh năm 1980; Vắng m t.
2. Anh Nguyễn Phƣớc S, sinh năm 1986; Vắng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 25/11/2020, Phạm Văn T đang nằm ngủ tại nhà nghỉ Lan Anh, thuộc phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì nhận đƣợc điện thoại của Hoàng (chƣa rõ nhân thân lai lịch) rủ đi trộm cắp tài sản của ngƣời dân, T đồng ý. Khoảng 30 phút sau Hoàng điều khiển xe mô tô kiểu dáng Airblade màu đen (không rõ biển số) đến trƣớc nhà nghỉ Lan Anh đón T và đƣa cho T bộ dụng cụ dùng để bẻ khóa điện xe mô tô gồm: 02 đầu đoản bằng kim loại, 01 đầu khóa chữ T bằng kim loại, 01 chìa khóa xe mô tô, tất cả đƣợc gói vào chiếc khẩu trang màu trắng. T bỏ bộ dụng cụ vào túi quần bên trái rồi lên xe Hoàng chở đi qua các tuyến đƣờng trên địa bàn thành phố Dĩ An tìm xe mô tô của ngƣời dân để sơ hở chiếm đoạt. Khi đang chạy trên tuyến đƣờng Võ Thị Sáu, thuộc khu phố Tây A, phƣờng Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì Hoàng nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Future màu đỏ ghi xám, biển số: 61D1-809.20 của ông Vũ Duy Ngh đang dựng trƣớc nhà số 141 đƣờng Võ Thị Sáu, đầu xe quay vào trong, trên xe còn cắm sẵn chìa khóa trong ổ khóa. Lúc này, H chạy xe qua khoảng 05 mét dừng xe lại cho T đi bộ lại tiếp cận chiếc xe mô tô Future của ông Ngh rồi dùng hai tay đẩy lùi xe ông Ngh khoảng 01 mét bật khóa điện lên, do xe có hệ thống báo trộm nên báo động, ông Ngh từ trong nhà chạy ra truy hô cùng ngƣời dân bắt giữ đƣợc T giao Công an phƣờng Đông Hòa lập biên bản ngƣời có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ tang vật lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý. Riêng H đã chạy thoát.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 215/KLGĐ-HĐĐGTS ngày 26/11/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, Future màu đỏ ghi xám, biển số 61D1-809.20 có trị giá 17.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 xe mô tô Future màu đỏ ghi xám, biển số 61 D1 – 809.20.
+ 02 đầu đoản kim loại; 01 đầu khóa kim loại hình chữ T.
+ 01 chìa khóa xe mô tô; 01 khẩu trang màu trắng.
+ 01 nón bảo hiểm Grap đã bể.
Tại cáo trạng số 61/CT – VKS ngày 02 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 02 (hai) năm 02 (hai) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với đối tƣợng tên H chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Duy Ngh sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu về gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T không tranh luận, không đối đáp và xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo, bị hại, ngƣời làm chứng tại cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là Kết luận định giá tài sản số 215/KLĐG-HĐĐGTS ngày 26/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An, Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có 02 tiền án chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 61/CT – VKS ngày 02 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về xử lý vật chứng: 02 đầu đoản kim loại; 01 đầu khóa kim loại hình chữ T; 01 chìa khóa xe mô tô; 01 khẩu trang màu trắng; 01 nón bảo hiểm Grap đã bể là công cụ bị cáo T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã đƣợc thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đ t ra.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội trộm cắp tài sản.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm 02(hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2020.
2. Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 đầu đoản bằng kim loại; 01 đầu khóa kim loại hình chữ T; 01 chìa khóa xe mô tô; 01 khẩu trang màu trắng; 01 nón bảo hiểm Grap.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/02/2021 – BL số 106)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thị Kim Hoa |