vanban.org

Bản án 70/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Cướp giật Tài sản”.

Trần Văn L 03 (ba) năm tù Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2021; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Văn L phạm tội “Cướp giật Tài sản”. - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Cướp giật Tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 70/2021/HSST
Ngày
: 12/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phạm Thị Nhung;

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 12 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2021/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN VĂN L; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 5/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 5/1 đường số 13, tổ 83, khu phố 5, phường A, quận Bh, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 131/3A tổ 108, ấp Tam Đông, xã Th, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Trần Văn N (sinh năm 1965) và bà Nguyễn Thị Ngọc D (sinh năm 1969); Vợ: Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1984; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2021;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại: Anh Đỗ Thanh Th, sinh năm 1987, địa chỉ 27/18 Phan Sào Nam, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

(vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các Tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn L và Phạm Công S, Quách Tấn T có quan hệ là bạn bè quen biết nhau.

Khoảng 09 giờ ngày 16/9/2006, S, T gặp L tại tiệm bida ở số 13, phường A, quận Bh và rủ L đi cướp giật Tài sản kiếm tiền tiêu xài, L đồng ý. Cả ba cùng thống nhất với nhau là T điều khiển xe gắn máy hiệu DH chở S tìm người có Tài sản để cướp giật, L điều khiển xe gắn máy hiệu Dream cản trở những người đuổi theo. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đang lưu thông trên đường Lũy Bán Bích hướng từ đường Thoại Ngọc Hầu đến đường Hòa Bình thì S và T thấy anh Đỗ Thanh Th điều khiển xe gắn máy lưu thông bên kia đường hướng từ đường Hòa Bình về đường Thoại Ngọc Hầu, trên tay anh Th có cầm chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 7610 sử dụng nên S, T chỉ L thấy và kêu L quay lại chạy theo xe anh Th. Khi anh Th điều khiển xe đến trước nhà số 97 Thoại Ngọc Hầu, phường H, quận P thì T điều khiển xe áp sát vào bên trái xe của anh Th để S dùng tay phải giật được điện thoại di động rồi tăng ga bỏ chạy. Lúc này, anh Th tri hô và đuổi theo T và S đến ngã tư Âu Cơ – Thoại Ngọc Hầu thì đuổi kịp và đụng vào xe gắn máy của T và S làm cả hai ngã xuống đường. Sau đó, anh Th và người dân bắt giữ T và S giao Công an phường Hòa Thạnh xử lý. Riêng L khi thấy T và S bị bắt thì bỏ chạy thoát.

Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú mời L đến làm việc và L đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Sau đó, L được giải quyết cho về nhà và đã bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 29/01/2021 thì bị bắt theo lệnh truy nã.

Ngày 21/6/2007, Phạm Công S, Quách Tấn T bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú tuyên phạt mức án 03 năm tù về tội Cướp giật Tài sản.

*Vật chứng: Đã giải quyết theo Bản án số 145/2007/HSST ngày 21/6/2007 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Phạm Ngọc S, Quách Tấn T đã bồi thường cho anh Đỗ Thanh Th số tiền 4.300.000 đồng; anh Th không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với Phạm Ngọc S và Quách Tấn T không có yêu cầu L bồi thường lại số tiền trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 64/CT-VKSQTP ngày 14 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Cướp giật Tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay là điểm d Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Cướp giật Tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay là điểm d Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật Tài sản”.

Bị cáo Trần Văn L nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xét xử cho bị cáo một mức án nhẹ để có cơ hội sửa sai và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các Tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các Tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận do cần tiền tiêu xài nên ngày 16/9/2006 bị cáo Trần Văn L đã thống nhất ý kiến và đi cướp giật Tài sản cùng Phạm Công S và Quách Tấn T với vai trò cản địa cho S và T sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cướp giật điện thoại di động hiệu Nokia 7610 của anh Đỗ Thanh Th tại trước nhà số 96 Thoại Ngọc Hầu, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú đã phạm vào tội “Cướp giật Tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay là điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý Tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi cướp giật Tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) nay là điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt dành cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được giải quyết theo Bản án số 145/2007/HSST ngày 21/6/2007 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình Phạm Ngọc S, Quách Tấn T đã bồi thường cho anh Đỗ Thanh Th số tiền 4.300.000 đồng, đồng thời anh Th không yêu cầu bồi thường gì thêm; Phạm Ngọc S và Quách Tấn T cũng không có yêu cầu L bồi thường lại số tiền trên do đó Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết;

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nên miễn cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Cướp giật Tài sản”.

Căn cứ vào điểm d Khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay là điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 33; điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Căn cứ vào Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt:

Trần Văn L 03 (ba) năm tù

Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2021;

Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo;

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm;

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ