vanban.org

Bản án 70/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 27/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 330; Điểm h, Điểm i, Điểm s Khoản 1,

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đình D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Xử phạt: Nguyễn Đình D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 330; Điểm h, Điểm i, Điểm s Khoản 1,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN UH- TP HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2021/HS-ST
Ngày 27 tháng 09 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Tô Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông (bà): Nguyễn Hạ Tuấn.

Ông (bà): Đặng Viết Côi.

Thư ký phiên tòa: Bà: Tởng Thị Lan – Thư ký Toà án nhân dân Huyện UH – TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện UH - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Ông (bà): Nguyễn Văn Vũ. - Kiểm sát viên.

Ngày 27/09/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện UH – Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 16/09/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST- HS ngày 16/09/2021, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đình D - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/7/1999, tại xã HN, huyện UH, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 6, thôn ĐX, xã HN, huyện UH, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Nguyễn Đình T - Sinh năm: 1970 (còn sống) và bà: Đinh Thị H - Sinh năm: 1974 (còn sống); Anh chị em ruột: Có 03 người, bị can là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện UH.

(Có mặt tại phiên toà) * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1- Anh Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1985 (Vắng mặt tại phiên toà)

Trú tại: thôn DX, xã HN, huyện UH, thành phố Hà Nội. 2- Anh Trần Mạnh Đ, sinh năm 1996 (Vắng mặt tại phiên toà)

Trú tại: thôn TA, thị trấn VĐ, huyện UH, thành phố Hà Nội. -3 Công ty TNHH XNK và TM HC. Trụ sở: thôn ĐX, xã HN, huyện UH, thành phố Hà Nội Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Tiến D – Giám đốc Công ty (Vắng mặt tại phiên toà) * . Người làm chứng: 1- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1989 (Vắng mặt tại phiên toà) Trú tại: phường VP, quận HĐ, thành phố Hà Nội. 2- Chị Vũ Thị Kiều Tr, sinh năm 1991 (Vắng mặt tại phiên toà) 3- Anh Vũ Đức Đ, sinh năm 1989 (Vắng mặt tại phiên toà) Đều trú tại: thôn ĐX, xã HN, huyện UH, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 20 phút, ngày 25/8/2021, tại chốt tự quản an toàn số 04, thuộc thôn Nam D, xã HN, huyện UH, thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ kiểm soát người ra vào địa bàn xã phòng chống dịch bệnh Covid-19 theo sự phân công nhiệm vụ của Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 xã HN. Thời điểm này tại chốt có anh Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1985, trú tại thôn DX, xã HN làm tổ trưởng, cùng các tổ viên là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1989, trú tại phường VP, quận HĐ; Vũ Thị Kiều Tr, sinh năm 1991 và Vũ Đức Đ, sinh năm 1989, cùng trú tại thôn ĐX, xã HN. Trong khi tổ công tác làm nhiệm vụ có xe ô tô biển kiểm soát 30G-020.57 do Trần Mạnh Đ, sinh năm 1996, trú tại thôn TA, thị Trấn VĐ, huyện UH điều khiển; ngồi bên ghế phụ có Nguyễn Đình D, sinh năm 1999, trú tại xóm 06, thôn ĐX, xã HN, huyện UH di chuyển về phía chốt kiểm soát, nên K yêu cầu Đ dừng xe và khai báo y tế thì Đ xuống xe xuất trình 01 giấy đi đường do Công ty TNHH XNK và TM HC cấp và 01 căn cước công dân mang tên Đ, mục đích đưa D đi qua chốt để về nhà tại xóm 06, thôn ĐX. Do Đ không phải là người địa phương và không có lý do chính đáng để qua chốt, nên anh K đã giải thích yêu cầu Đ không được vào thì Đ dùng tay kéo khẩu Tr khỏi miệng anh K xuống phần cằm, mục đích xem anh K có phải người quen hay không để Đ xin đi qua chốt nhưng anh K kéo ngay khẩu Tr lên che lại Miệng và cương quyết không cho Đ qua chốt. Khi Đ xuống xe làm thủ tục và có hành vi kéo khẩu Tr của anh K thì D vẫn ngồi trên xe chơi điện thoại không để ý. Sau đó do thấy anh K trả lại Đ giấy tờ thì lúc này D biết anh K không cho đi qua chốt nên D mở cửa xe xuống đường trong tình trạng cởi trần, không đeo khẩu Tr phòng chống dịch Covid-19 theo quy định rồi D đi về phía anh K, thấy D anh K yêu cầu D đeo khẩu Tr và xuất trình chứng minh nhân dân, nhưng D không chấp hành mà giơ tay phải về phía mặt anh K để giật khẩu Tr xuống xem mặt nhưng anh K gạt được tay D ra; tiếp đó D tiến sát đến chỗ anh K, tỏ thái độ côn đồ, chống đối, đồng thời nói to “làm sao, làm sao”, định dọa đánh anh K, rồi D tiếp tục dùng tay phải giật khẩu Tr của anh K ra khỏi phần miệng và chỉ tay vào mặt anh K đe dọa dùng vũ lực, đồng thời D chửi “địt mẹ mày nhớ mặt tao”, mục đích để uy hiếp tinh thần, làm cho anh K sợ mà cho D qua chốt để đi về nhà. Khi D có hành vi đe dọa dùng vũ lực đối với anh K thì Đ đã can ngăn D và đẩy D lên ghế phụ xô ô tô đóng cửa lại. Sau đó Đ lên xe điều khiển xe đi chuyển bỏ đi. Toàn bộ nội dung sự việc đã được tổ công tác ghi hình và anh K đã làm báo cáo Tờng trình sự việc gửi UBND, ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 xã HN, Công an xã HN. Sau đó Công an xã HN đã báo cáo nội dung vụ án và chuyển toàn bộ tài liệu đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện UH. Cùng ngày Cơ quan CSĐT - Công an huyện UH đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình D.

Đồ vật tài liệu thu giữ: 01 giấy đi đường của Trần Mạnh Đ do Công ty TNHH XNK và Thương mại HC cấp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 16/09/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện UH đã truy tố bị cáo về tội:

“Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải, lần đầu phạm tội. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập thấp, có phần ảnh hưởng do dịch bệnh Covid.

•

Về tội danh và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: Khoản 1 Điều 330; Điểm h, Điểm i, Điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo:

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D mức án từ: 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi T) tháng kể từ ngày tuyên án.

* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Không.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu lưu giữ hồ sơ vụ án: 01 giấy đi đường của Trần Mạnh Đ do Công ty TNHH XNK và Thương mại HC cấp.

* Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

• Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo

qui định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện UH đã truy tố.

HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 06 giờ 20 phút, ngày 25/8/2021, tại chốt tự quản an toàn số 04, thuộc thôn Nam D, xã HN, huyện UH, thành phố Hà Nội, do anh Nguyễn Mạnh K làm tổ trưởng thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 theo sự phân công của Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 xã HN; Nguyễn Đình D đã 02 lần dùng tay cố ý giật khẩu Tr của anh K xuống khỏi miệng; đồng thời D có hành vi, lời nói, cử chỉ, thái độ chống đối cản trở anh K làm nhiệm vụ, đe dọa dùng vũ lực nhằm uy tinh thần, mục đích làm cho anh K sợ để cho D qua chốt đi về nhà.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện UH đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội:“Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội. Bị cáo đi ra đường không có lý do chính đáng. Bị cáo đi mua áo phông, không phải là nhu cầu thiết yếu, vi phạm qui định Chỉ thị 15/CT-TTg ngày 27/03/2020 và 16/CT_TTg ngày 03/04/2020 của Thủ Tớng Chính phủ về biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19. Trong khi dịch bệnh Covid đang hoành hành toàn cầu, là một đại dịch ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng nhiều người. Việt Nam và các nước trên thế giới đang tích cực phòng chống dịch bệnh này. Bị cáo đã có hành vi 02 lần giật khẩu Tr (là phương tiện hiệu quả ngăn ngừa phòng dịch – như “vũ khí chống giặc”) của anh Nguyễn Mạnh K là cán bộ làm nhiệm vụ trực chốt phòng chống dịch bệnh. Bị cáo còn có hành vi sấn sổ đe dọa anh K làm anh K sợ khi bị cáo muốn vượt chốt.

Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt Tơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.

Xét nhân thân bị cáo: chưa tiền án, chưa tiền sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa:

- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.

- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: + Bị cáo thành khẩn khai báo. + Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. + Bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. + Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. + Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo làm tự do, thu nhập thấp và không ổn định do tình hình dịch bệnh Covid. + Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.

Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: theo điểm h, điểm i, điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Áp dụng Mục 2.2 Điều 2 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Tòa án ND Tối cao hướng dẫn xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid - 19 (chưa làm lây lan dịch bệnh) và xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Không có. Hội đồng xét xử không xét.

- Về xử lý vật chứng, xét thấy cần:

+ Tịch thu lưu giữ hồ sơ vụ án: 01 giấy đi đường của Trần Mạnh Đ do Công ty TNHH XNK và Thương mại HC cấp.

Các vấn đề khác:

Đối với Trần Mạnh Đ, trước và trong khi xảy ra sự việc trên, không có sự trao đổi, bàn bạc thống nhất, hay hỗ trợ giúp sức, tham gia cùng D trong việc đe dọa, chống đối lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ phòng chống dịch bệnh Covid 19; Đ có hành vi kéo khẩu Tr của anh K nhưng không có mục đích đe dọa, chống đối và khi D có hành vi, lời nói đe dọa dùng vũ lực đối với anh K đang làm nhiệm vụ thì Đ đã ngăn cản đẩy D lên xe, nên Đ không đồng phạm. Tuy nhiên Đ ra đường không có lý do chính đáng, có hành vi kéo khẩu Tr của anh K, không tuân thủ quy định về phòng chống dịch bệnh. Vì vậy Công an huyện UH đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.000.000 đồng đối với Trần Mạnh Đ là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử không xét.

Đối với công ty TNHH XNK và Thương mại HC, trụ sở tại ĐX, HN, UH do anh Lê Tiến D, sinh năm 1991, trú tại ĐX là giám đốc cấp giấy đi đường cho Trần Mạnh Đ không đúng đối Tợng, lĩnh vực thiết yếu quy định theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19, Chỉ thị 17 ngày 23/7/2021 của UBND thành phố Hà Nội và Chỉ thị 08 ngày 23/7/2021 của UBND huyện UH về thực hiện giãn cách xã hội trên địa bàn thành phố để phòng chống dịch Covid-19. Ngày 14/9/2021 Công an huyện UH đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 7.500.000 đồng đối với anh Lê Tiến D là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Huyện UH, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện UH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

•Áp dụng: Khoản 1 Điều 330; Điểm h, Điểm i, Điểm s Khoản 1,

Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02 ngày 15/05/2018 của H§TP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo. Mục 2.2 Điều 2 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Tòa án ND Tối cao hướng dẫn xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid -19; Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

•Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đình D phạm tội “Chống người thi hành

công vụ”. Xử phạt: Nguyễn Đình D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội khác.

Giao bÞ c¸o cho chính quyền địa phương là Uû ban nh©n d©n Xã HN, Huyện UH, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

- Tr êng hîp ng êi được h ëng ¸n treo thay ®æi n¬i c tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 92 cña luËt thi hµnh ¸n h×nh sù. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo” theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và điều 93 cña luËt thi hµnh ¸n h×nh sù.

* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Không có.

- Về xử lý vật chứng: + Tịch thu lưu giữ hồ sơ vụ án: 01 giấy đi đường của Trần Mạnh Đ do Công ty TNHH XNK và Thương mại HC cấp.

•

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333

của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai) trăm ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ