- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội: “ Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2021/HS-ST Ngày: 08/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Vui
Bà Phan Thị Ngọc Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ- Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Kỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 08/11/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 65/2021/TLST-HS ngày 14/10/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-HS ngày 25/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh đối với bị cáo:
Trần Minh T, sinh ngày 01/8 /1998.tại Bình Phước; Tên gọi khác: Chó; Nơi cư trú: Khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông TrầnVăn O, sinh năm: 1972 và bà Nguyễn Thị Thu Lan, sinh năm 1971; Vợ Nguyễn Kiều Oanh, sinh năm: 2002, bị cáo có 01 người con sinh năm 2021;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Bị bắt ngày 23/6/2021 đến ngày 20/9/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh.
*Bị hại: Nguyễn Văn Tư, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
*Người làm chứng:
1. Ngô Văn Tiền, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Kp Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
2.Trần Thị Th, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Kp Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
3. TrầnVăn O sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Kp Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
4. Nguyễn Kiều Oanh, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: Kp Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 15/02/2021, Trần Minh T cùng vợ là chị Nguyễn Kiều Oanh đang ngồi chơi tại nhà bà Trần Thị Tấm thuộc khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, lúc này anh Nguyễn Văn Tư đang uống bia cùng với anh Ngô Văn Ti ( tên goi khác Thun) ở quán ông Hùng thấy có người thanh niên đang chích xì ke, Tư có hỏi thì người này nói mua ở trong xóm Đảo. Tuơi đi đến nhà bà Tấm ở trong xóm Đảo, thấy T đang ngồi cùng với vợ tên là Oanh. Tư chỉ tay vào mặt T chửi T, lúc này chị Oanh nói với anh Tư “Em đang có bầu, anh nói thôi đừng quơ tay trúng bụng em”, anh Tư tiếp tục chửi “Tao đập mày luôn giờ”. Thấy chị Oanh bị anh Tư chửi, T nói “Giờ anh muốn sao”, anh Tư thách thức đòi đánh nhau với T. T đứng dậy thì được anh Ngô Văn Tiền, can ngăn T cũng đi về nhà. T thấy bực tức vì bị anh Tư chửi và đòi đánh vợ mình, T lấy một con dao tự chế, dài 55cm, quay lại nhà bà Tấm tìm anh Tư. Lúc này, anh Tư nghe có người nói T cầm dao đến. Anh Tư nghe vậy cũng đi đến nhà bà Tấm, thấy T đang cầm dao, anh Tư lấy 01 vỏ chai nước ngọt Trà Xanh không độ bằng thủy tinh trên bàn gỗ gần cầu rồi đập bể phần đáy chai vào thành cầu, dùng tay trái cầm vào cổ chai, phần đáy chai bể sắc nhọn đâm T. T dùng tay phải đỡ bị cạnh nhọn của vỏ chai đâm vào vùng khuỷu tay phải làm rách da, dài 02cm, chảy máu. T vung dao lên với về phía anh Tư chém ngang từ phải sang trái, anh Tư dơ tay phải lên đỡ, bị lưỡi dao trúng ngón tay trỏ và đầu lưỡi dao trúng dưới cằm bên trái của anh Tư, đồng thời T bị trượt chân ngã xuống đất, anh Tư lao tới dùng tay nắm lưỡi dao giằng co với T. do T và anh Tư tư thế đối diện nhau nên mũi dao hướng về phía ngực của anh Tư làm trúng hai nhát ở vùng ngực trái, ngực phải của anh Tư. Sau đó, anh Tư, được chuyển đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương, còn T bỏ về nhà.
Căn cứ bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 52/2021/TgT ngày 06/04/2021, của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Phước, kết luận anh Nguyễn Văn Tư dấu hiệu chính qua giám định là:
Sẹo dưới cằm trái kích thước 9x0,2cm lồi, mềm, lành tốt; Sẹo ngực trái, kích thước 5x0,2cm, gọn, mềm.
Sẹo trước – ngoài ngực phải kích thước 6x0,1cm gọn, mềm, lành tốt.
Vết thương mất đốt 3 ngón II tay phải đã phẫu thuật làm mỏm cụt, sẹo mỏm cụt đốt ngón 2 ngón II, kích thước 3,5x0,2cm đóng vảy, đang lành sẹo, sưng nề nhẹ.
Các tổn thương nêu trên do vật có cạnh sắc tác động trực tiếp gây ra, con dao (vật chứng giám định) khi tác động bằng phần lưỡi dao vào cơ thể có thể gây ra các vết thương này.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn Tư do thương tích gây nên hiện tại là 12%.
Căn cứ bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 231/2021/TgT, ngày 27/08/2021, của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Phước, kết luận Trần Minh T dấu hiệu chính qua giám định là:
Sẹo sau – ngoài khuỷu phải kích thước 2x0,6cm lồi nhẹ.
Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc (có thể kèm nhọn) tác động trực tiếp gây ra; nếu tác động bằng chai thủy tinh đã vỡ (có mảnh vỡ) tác động vào cơ thể có thể gây ra tổn thương này.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02%.
Tại cơ quan điều tra, Trần Minh T đã thừa nhận hành vi dùng dao chém Tư gây thương tích.
Đối với thương tích của T do bị anh Tư dùng chai thủy tinh đã đập bể phần đáy chai đâm Tuân gây thương tích 2% T không yêu cầu xử lý hình sự.
Bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 14/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s,b khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 24 đến 30 tháng tù. Cho hưởng án treo thời gian thử thách gấp đôi.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án:
Đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng về thời gian địa điểm xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khách quan xác định:
Khoảng 16 giờ ngày 15/02/2021 trong lúc đang ngồi uống bia, thấy có người sử dụng ma túy và được biết mua ở khu vực xóm Đảo nên Tư vào xóm Đảo khi nhìn thấy T thì Tư đã chửi và đòi đành nhau với T, sự việc đã được mọi người can ngăn, sau đó nghĩ lại bực tức nên T về nhà lấy dao để đánh nhau với Tư. Khi Tư thấy T cầm dao thì Tư cũng lấy chai thủy tinh trà xanh không độ làm hung khí chạy đến đánh nhau với T, khi bị Tư dùng chai thủy tinh đã bị đập bể phần đáy chai đâm trúng vào khủy tay thì T dùng dao chém về phía Tư sau đó cả hai vật nhau, T gây thương tích cho Tư 12%. Mặc dù thương tích chỉ 12% nhưng bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây ra cho bị hại.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Đối với hành vi dùng một chai thủy tinh đập bể phần đáy chai tạo ra cạnh sắt, nhọn, bị hại đã đâm bị cáo gây thương tích 2% là có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích nhưng bị cáo không yêu cầu xử lý hình sự đối với anh Tư nên cơ quan điều tra không xử lý hành vi gây thương tích của Tư đối với T.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương.
Động cơ và mục đích của bị cáo gây thương tích cho bị hại xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống. Khi anh Tư thách thức đánh nhau, sự việc đã được anh Ti can ngăn và đã chấm dứt nhưng sau đó bị cáo lại lấy dao tìm bị hại, khi gặp nhau thì cả bị cáo và bị hại đều dùng hung khí nguy hiểm đánh nhau. Hậu quả cả hai đều bị thương tích.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc dùng dao đánh người khác là rất nguy hiểm, nhưng do không kìm chế được bị cáo đã gây ra thương tích cho bị hại nên cần phải có một hình phạt tương xứng với hành phạm tội của bị cáo.
Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại số tiền 16.500.000đ cho bị hại, nguyên nhân bị cáo gây thương tích cho bị hại cũng có một phần lỗi của chính bị hại ( bút lục 95) đồng thời bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trước khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự do vậy đơn xin bãi nại của bị hại chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bi cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt từ 24 đến 30 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
Nhận thấy bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng, vợ bị cáo mới sinh con được 9 tháng, hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc diện khó khăn có xác nhận của UBND thị trấn Lộc Ninh. Sau khi phạm tội bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 23/6/2021 đến ngày 20/9/2021 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh cho gia đình bảo lĩnh, bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo sửa chữa lỗi lầm để trở thành người tốt. Đề nghị của kiểm sát viên cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho UBND nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại xác nhận đã được bồi thường số tiền 16.500.000đ và không yêu cầu gì thêm, hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án:
Đối với con dao tự chế là hung khí gây án có không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với phần chai thủy tinh (Trà xanh không độ) quá trình điều tra không thu thập được.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội: “ Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Minh T 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Minh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 55cm.
(Vật chứng đã được thống kê và mô tả như trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0006863 ngày 02/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước).
4. Án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa áùn.
Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Đối với bị hại do vắng mặt tại phên tòa, thời gian kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bình Phước -VKSND huyện Lộc Ninh
- Bị cáo, bị hại;
- Bộ phận HSNV CA Lộc Ninh;
- Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;
- Chi cục THADS huyện Lôc Ninh;
- Lưu hồ sơ.
Lê Thành Liêm
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước -VKSND huyện Lộc Ninh - Bị cáo, bị hại; - Bộ phận HSNV CA Lộc Ninh; - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS huyện Lôc Ninh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Liêm |