- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung H trộm căp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Trung H phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2021/HS-ST Ngày 23-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Mạnh và bà Vũ Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Trung H (tên gọi khác là T), sinh năm 1982, tại xã TK, huyện B, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký HKTT: Số nhà 207 ngách 3, ngõ 55 đường L, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Chỗ ở: Thôn L, xã TK, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình Nghĩa, tên gọi khác là Lê Trung Ng (đã chết) và bà Phạm Thị T1; tiền sự: không.
Tiền án: Bản án số 27 ngày 08/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt trị giá 6.500.000 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2021.
Nhân thân:
+ Bản án số 30 ngày 21/12/2004, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp trị giá 8.000.000 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính ngày 30/3/2006, nộp án phí ngày 05/7/2006.
+ Bản án số 485 ngày 22/12/2010, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính ngày 09/01/2013, nộp án phí ngày 03/7/2012.
+ Quyết định số 139/QĐ-UB ngày 31/3/2003 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Giang áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo trong thời hạn 12 tháng. Bị cáo chấp hành xong quyết định tháng 3/2004.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/8/2021 đến ngày 18/8/2021 bị áp dụng biện pháp tạm giam; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Mai Duy D, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương;
Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức K, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Trung H đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Sáng ngày 03/8/2021, trong lúc đi bộ trên đường thuộc Khu Hạ, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, H gặp đối tượng tên Cường (là bạn quen biết xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch). Cường rủ H đi tìm xem nhà nào có tài sản sơ hở thì vào lấy đem đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng, H đồng ý. Cường điều khiển xe mô tô (không xác định được nhãn hiệu, biển kiểm soát) chở H đi từ thị trấn Kẻ Sặt đến xã Thái Học, huyện Bình Giang. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực bãi đất trống trước cổng nhà anh Mai Duy D, sinh năm 1981, ở thôn P, xã T (là nơi anh D tập kết vật liệu xây dựng), H và Cường phát hiện anh D có để một số đồ dùng, vật liệu xây dựng được che đậy bằng các tấm tôn cũ và 4 chân giàn giáo xây dựng làm bằng kim loại sắt, có đường kính chỗ rộng nhất 05cm, chỗ hẹp nhất 03cm, trong đó 2 chân giáo có kích thước (1,7 x 1,25)m, 2 chân giáo có kích thước (1,5 x 1,25)m. Quan sát thấy không có người, Cường điều khiển xe mô tô đi qua cổng nhà anh D sau đó vòng quay lại dựng xe ở rìa đường rồi cả 2 đi đến bê 02 chân giàn giáo để lên yên xe mô tô. Cường điều khiển xe chở H ngồi sau giữ 02 chân giàn giáo đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Nguyễn Đức K, sinh năm 1985, ở thôn B, xã B, huyện B bán được 200.000 đồng, Cường và H chia nhau mỗi người 100.000 đồng (thời điểm này vào khoảng gần 11 giờ cùng ngày).
Sau khi bán 2 chân giàn giáo vừa chiếm đoạt được, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Cường tiếp tục rủ bị cáo H quay lại chiếm đoạt thêm chân giàn giáo, H đồng ý. Cường điều khiển xe chở H quay lại nhà anh D lấy tiếp 2 chân giàn giáo còn lại. Sau khi lấy được, Cường điều khiển xe chở H ngồi sau giữ 02 chân giàn giáo đi được một đoạn thì gặp xe ô tô của anh D điều khiển hướng ngược chiều. Do đường hẹp nên Cường dừng xe, H xuống xe bê 02 chân giàn giáo ép sát vào rìa đường để tránh xe ô tô của anh D đi qua. Cường và H tiếp tục mang đến bán cho anh K được 200.000 đồng, chia nhau mỗi người 100.000 đồng.
Khi anh D về đến nhà phát hiện bị mất tài sản, anh D kiểm tra hệ thống camera hành trình trên xe ô tô và camera an ninh ở nhà thì xác định hai nam thanh niên vừa gặp ở đoạn đường gần nhà, lúc tránh xe chính là người trộm cắp tài sản của gia đình nên đã làm đơn trình báo với Cơ quan Công an huyện. Ngày 08/8/2021, H đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi của mình; cùng ngày 08/8/2021, anh Nguyễn Đức K đã tự nguyện giao nộp 04 chân giàn giáo để phục vụ điều tra.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 09/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Bình Giang kết luận: 04 chân giàn giáo của anh Mai Duy D có tổng trị giá 700.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 18 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 7 đến 10 tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ.
Hình phạt bổ sung: không đề nghị.
Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh D, nội dung tình tiết như mô tả ở trên; bị cáo nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại là anh Mai Duy D vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai tại cơ quan điều tra: Anh D đã bị kẻ gian trộm cắp chiếm đoạt 04 chân giàn giáo bằng kim loại. Anh đã nhận lại được tài sản do cơ quan điều tra thu hồi của bị cáo và trả lại cho anh, không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng là anh Nguyễn Đức K vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai tại cơ quan điều tra: Anh K đã mua 04 chiếc chân giàn giáo bằng kim loại của H với giá 400.000 đồng, nhưng anh không biết nguồn gốc tài sản do trộm cắp mà có. Anh tự nguyện cho bị cáo số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo:
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 12 giờ ngày 03/8/2021, tại thôn Phú Khê, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Lê Trung H và đối tượng không xác định được nhân thân, lai lịch đã lén lút chiếm đoạt của gia đình anh Mai Duy D 04 chân giàn giáo bằng kim loại, tổng trị giá 700.000 đồng, sau đó mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức rõ được hậu quả nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện hành vi là có lỗi cố ý. Năm 2020, bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nên bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân:
Bị cáo có nhân thân xấu: Đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc; vào năm 2010, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; vào năm 2004, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang kết án về tội Trộm cắp tài sản.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp tài sản lần thứ nhất, bị cáo và đối tượng tên Cường đã chia xong tiền bán tài sản thì đối tượng tên Cường rủ bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi thứ 2, bị cáo đồng ý và cả hai lại tiếp tục quay lại nhà anh D và chiếm đoạt tài sản lần thứ 2; hành vi mỗi lần đều đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 2 lần trở nên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt:
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù ở mức tương xứng, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng, hoàn cảnh khó khăn nên không phạt tiền bổ sung.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường; anh Nguyễn Đức K không yêu cầu bị cáo hoàn trả 400.000 đồng tiền bỏ ra mua chân giàn giáo; chân giàn giáo là vật chứng đã được trả lại cho bị hại trong giai đoạn điều tra nên không phải giải quyết. Số tiền 400.000 đồng do phạm tội mà có, anh K cho bị cáo nên không truy thu nộp ngân sách.
Đối với đối tượng tên Cường cùng thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo H xác định không biết ở đâu, lý lịch cụ thể ra sao và mới chỉ gặp vài lần ở khu vực thị trấn Kẻ Sặt huyện Bình Giang và có nghe Cường nói là Cường ở thôn Phủ xã Thái Học; Cơ quan điều tra đã rà soát ở địa bàn trên nhưng không xác định được đối tượng là ai; xe mô tô mà đối tượng tên Cường và bị cáo H dùng vào việc phạm tội nhưng không xác định được nhãn hiệu và BKS, do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp; Anh Nguyễn Đức K mua tài sản nhưng không biết nguồn gốc, nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý anh K về trách nhiệm hình sự là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Trung H phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ (09/8/2021).
Bị cáo Lê Trung H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện Bình Giang - Cơ quan CSĐT CA huyện Bình Giang; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Nhà tạm giữ CA huyện Bình Giang; - Chi cục THADS huyện Bình Giang; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HSVA; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Cường |