- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Yến Thảo - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Trần Thị Yến Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2021/HS-PT Ngày: 13-7-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân.
Các Thẩm phán: Ông Lê Hữu Nam.
Ông Trương Quốc Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thuyên – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2021/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Trần Thị Yến Th, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2021/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân Thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị Yến Th, sinh ngày 20/6/1972 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số 11/8 đường D, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Kh (chết) và bà: Phan Thị T, sinh năm 1932; chồng: Mai Văn Ng (đã bỏ đi từ lâu); con: có 01 con, sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 16/04/2002 bị Công an phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 50.000 đồng;
- Ngày 07/06/2002 bị Công an phường Tam Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với hình thức Cảnh cáo;
- Ngày 20/12/2002 bị Công an quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 50.000 đồng;
- Ngày 24/7/2003 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H khởi tố do có hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 04/02/2004 thì được tạm đình chỉ điều tra vụ án do bị mắc bệnh tâm thần;
- Ngày 03/01/2007, bị Công an quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh bắt và lập Danh chỉ bản về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 24/6/2013, bị Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương bắt và lập Danh chỉ bản về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 10/01/2019, bị Công an xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2020 đến ngày 30/12/2020 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Anh Mai Văn S, sinh năm 1996 (Là con của bị cáo); nơi cư trú: Số 11/8 đường D, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đoàn Thị M – Luật sư của Công ty Luật hợp danh T, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: 99 đường N, Thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong hai ngày 27/6/2020 và 02/10/2020, Trần Thị Yến Th đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố H, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/06/2020, Trần Thị Yến Th đi bộ đến quán bán cháo dinh dưỡng tại địa chỉ số 119 Đường Tr, phường P, Thành phố H để mua nhưng trong quán không có ai. Th đi vào trong thì nhìn thấy tủ của quầy không khóa, phía dưới có một túi xách màu đen của chị Cái Thị Hiếu Nh nên đã lén lút lấy trộm túi xách rồi đi đến khu vực kiệt Miếu Đôi trên đường D, phường A, Th rẽ vào một đoạn rồi kiểm tra túi xách thấy có một ví da đựng tiền bên trong có 2.500.000 đồng, 01 chiếc vòng đeo tay kim loại vàng, 01 chiếc nhẫn kim loại vàng, 02 tờ đô la Mỹ mệnh giá 2 USD và một số giấy tờ tùy thân của chị Nhi. Th lấy toàn bộ số tiền Việt Nam đồng, vòng vàng, nhẫn vàng và các giấy tờ tùy thân về cất giấu trên đầu giường ngủ của mình. Đối với túi xách, ví da và 02 tờ tiền đô la Mỹ thì Th vứt bỏ vào sọt rác ven đường nên không thu giữ được. Qua trình báo và trích xuất camera từ quầy bán cháo của chị Nhi, đến trưa ngày 29/06/2020 thì Th bị phát hiện. Chị Nhi cho rằng số tiền bị mất trộm là hơn 6.000.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu gì để chứng minh.
* Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 1.850.000 đồng; 01 vòng đeo tay bằng kim loại vàng; 01 nhẫn bằng kim loại vàng; 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe và 01 thẻ ATM Vietinbank đều mang tên Cái Thị Hiếu Nh; 01 giấy đăng ký xe mô tô 75B1-145.19 mang tên Nguyễn Thị L.
Tại các bản kết luận định giá tài sản số 201/KL-HĐĐGTS ngày 09/09/2020 và số 12/KL-HĐĐGTS ngày 24/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thành phố H kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt: 01 vòng đeo tay kim loại vàng có đính nhiều hạt trắng nhỏ, có khối lượng 2,75 chỉ; 01 nhẫn kim loại vàng, có khối lượng 0,86 chỉ. Tổng cộng là 3,61 chỉ đều có chất lượng 45%, trị giá 7.878.825 đồng; 01 túi xách bằng da, loại nữ, màu nâu, kích thước khoảng 25×20×10cm đã qua sử dụng và 01 ví da đựng tiền loại nữ, màu đỏ, kích thước khoảng 20×10cm (đều qua hình ảnh và lời khai do bị hại cung cấp) có tổng trị giá là 200.000 đồng.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam, chi nhánh Thừa Thiên Huế cung cấp tỉ giá ngoại tệ đô la Mỹ (USD) áp dụng trong ngày 27/6/2020 là 23.232 đồng. Như vậy, 04 đô la Mỹ có giá trị là 92.928 đồng.
* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã xử lý vật chứng trả lại toàn bộ tài sản tạm giữ cho chị Cái Thị Hiếu Nh. Chị Nh không yêu cầu gì thêm.
Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/10/2020, Trần Thị Yến Th đi bộ đến khu vực chợ Cống, khi ngang qua tiệm may T ở địa chỉ số 34 đường V, phường P, Thành phố H, Th nhìn thấy trên bàn gần cửa ra vào có túi da màu đen đang mở. Th đứng quan sát thấy không có ai trong tiệm nên đã lén lút đi đến lấy cắp một xấp tiền để trong túi da của chị Nguyễn Thị Tuyết H. Khi Th vừa lấy tiền xong chưa kịp tẩu thoát thì bị người dân xung quanh hô hoán, chị H cùng người dân đuổi theo bắt được Th cùng tang vật giao cho Công an phường P, Thành phố H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Về vật chứng và xử lý vật chứng:
Thu giữ số tiền 9.823.000 đồng trên người bị cáo khi bắt quả tang và Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho bị hại là chị Nguyễn Thị Tuyết H.
* Về trách nhiệm dân sự: Chị H nhận lại số tiền 9.823.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.
Như vậy, tổng cộng giá trị tài sản mà bị cáo Trần Thị Yến Th 02 lần trộm cắp là 20.494.753 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Thị Yến Th có dấu hiệu tâm thần nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Trần Thị Yến Th.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 80/KLGĐ ngày 20/01/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung kết luận về tình trạng tâm thần của Trần Thị Yến Th như sau:
* Tại thời điểm gây án:
a. Về y học: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót ổn định (F20.62).
b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Tại thời điểm hiện tại:
a. Về y học: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót ổn định (F20.62). Đối tượng cần được điều trị ngoại trú liên tục.
b. Về khả năng nhận thức và khả năng thực hiện hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HS-ST ngày 08/4/2021của Tòa án nhân dân Thành phố H đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử phạt bị cáo Trần Thị Yến Th 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, được trừ vào thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2020 đến ngày 30/12/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 14/4/2021, bị cáo Trần Thị Yến Th có đơn kháng cáo với nội dung xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
+ Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Yến Th là trong hạn luật định và hợp pháp; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Yến Th và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
+ Người bào chữa cho bị cáo Th trình bày: Khi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; tài sản chiếm đoạt đã trả lại cho các bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Th hiện đang điều trị bệnh tâm thần phân liệt và chăm sóc mẹ già nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có thời gian chữa bệnh và chăm sóc mẹ.
+ Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của luật sư và không trình bày gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Yến Th khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận: Trong các ngày 27/6/2020 và 02/10/2020, lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trên địa bàn Thành phố H trong việc quản lý tài sản, bị cáo Trần Thị Yến Th đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Cái Thị Hiếu Nh tiền, vàng, túi xách và ví da có tổng giá trị 10.671.753 đồng; chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Tuyết H số tiền 9.823.000 đồng. Tổng giá trị mà bị cáo Th chiếm đoạt của các bị hại là 20.494.753 đồng.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 80/KLGĐ ngày 20/01/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung kết luận: Tại thời điểm gây án, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Trần Thị Yến Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Yến Th, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Th là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 12 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, do bị cáo bị tâm thần phân liệt, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, cần được điều trị ngoại trú liên tục nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Th, sửa án sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo để bị cáo có thời gian chữa bệnh là có căn cứ, đúng pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị Yến Th và sửa Bản án sơ thẩm về mức hình phạt.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt : Bị cáo Trần Thị Yến Th 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2020 đến 30/12/2020.
2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Trần Thị Yến Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh TT Huế; - PV06 CA tỉnh TT Huế; - TAND Thành phố H; - Cơ quan THAHS Công an Thành phố H; - Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H; - Chi cục THADS Thành phố H; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án. CÁC THẨM PHÁN Trương Quốc Công Lê Hữu Nam | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |