- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Lâm Thị Kiều M và Võ Văn T"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15-12-2021 Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Công Giáo
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Võ Thanh Liêm
2. Bà Trương Thị Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 06/2021/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 310/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Kiều M, sinh năm 1985; Địa chỉ: Hẻm Đ, tổ B, khu vực S, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định, có mặt.
* Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Đường X, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Lâm Thị Kiều M trình bày: Chị và anh Võ Văn T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND phường Bình Định năm 2013. Sau khi cưới, vợ chồng sinh sống, làm việc ở nhiều nơi nhà mẹ chồng ở phường B, khu công nghiệp Đồng Nai, nơi cuối là thành phố Q. Năm 2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, anh T đánh chị nhiều lần. Tháng 4/2018, chị đang mang thai, vợ chồng kình cãi, anh T đánh chị nên mẹ chị đến đón chị về nhà mẹ ở. Vợ chồng không sống chung từ đó cho đến nay. Chị xác định không còn tình cảm gì với anh Võ Văn T nên yêu cầu ly hôn.
Vợ chồng có 02 người con chung Võ Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 26/5/2014; Võ Ngọc Như Y, sinh ngày 02/11/2018, hiện đang ở với chị, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Bị đơn anh Võ Văn T đã được Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Võ Văn T cố tình không hợp tác, không đến Tòa cung cấp lời khai và tham gia tố tụng.
* Tại phiên tòa:
- Chị Lâm Thị Kiều M vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên Tòa: Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của Tòa án trong quá trình thụ lý và tại phiên Tòa đều tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị cho chị Lâm Thị Kiều M ly hôn anh Võ Văn T. Giao 02 con Võ Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 26/5/2014; Võ Ngọc Như Y, sinh ngày 02/11/2018 cho chị Minh tiếp tục nuôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Lâm Thị Kiều M có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Văn T; bị đơn Võ Văn T có địa chỉ cư trú tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Võ Văn T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập hợp lệ nhưng anh Võ Văn T đã không hợp tác, không đến Tòa án để cung cấp lời khai. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa cũng đã được Tòa án tống đạt theo đúng thủ tục tố tụng dân sự. Theo chị Lâm Thị Kiều M và bà Võ Thị L (mẹ ruột anh Võ Văn T), gia đình đã gọi điện thông báo cho anh Võ Văn T biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án và Tòa án đã triệu tập anh tham gia tố tụng nhưng anh Võ Văn T vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Võ Văn T.
Chị Lâm Thị Kiều M và anh Võ Văn T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Định ngày 21/6/2013 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, đã không còn sống chung từ tháng 4/2018 cho đến nay. Chị Lâm Thị Kiều M xác định không còn tình cảm với anh Võ Văn T nên yêu cầu ly hôn. Tòa án đã nhiều lần mời anh Võ Văn T tham dự các phiên hòa giải để tìm cách hàn gắn hạnh phúc cho vợ chồng nhưng anh Võ Văn T không đến Tòa nên không thể tiến hành việc hòa giải được. Điều này chứng minh rằng anh Võ Văn T đã không có thiện chí trong việc hàn gắn hạnh phúc. Xác minh mức độ mâu thuẫn thì được bà Võ Thị L (mẹ ruột của anh Võ Văn T) cung cấp: Vợ chồng chị M, anh T thường xuyên mâu thuẫn trong cuộc sống và đã không còn chung sống từ năm 2018 nên khó có thể hàn gắn được. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau, có nghĩa vụ sống chung với nhau… nhưng đã gần 3 năm nay anh Võ Văn T và chị Lâm Thị Kiều M đã tự chấm dứt cuộc sống chung, không có trách nhiệm và nghĩa vụ gì với nhau. Điều này đã chứng tỏ mục đích hôn nhân giữa hai người đã không đạt được do đó yêu cầu được ly hôn của chị Lâm Thị Kiều M là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Lâm Thị Kiều M và anh Võ Văn T có 02 người con chung tên Võ Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 26/5/2014; Võ Ngọc Như Y, sinh ngày 02/11/2018. Chị Lâm Thị Kiều M có yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con. Hai cháu Võ Ngọc Quỳnh A, Võ Ngọc Như Y ở với mẹ từ khi cha mẹ sống ly thân cho đến nay. Cháu Võ Ngọc Quỳnh A có mong muốn được ở với mẹ, cháu Võ Ngọc Như Y chỉ mới hơn 3 tuổi. Để đảm bảo quyền lợi và tạo điều kiện về mọi mặt cho các cháu, giao 02 con cho chị Lâm Thị Kiều M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Võ Văn T vì chị Lâm Thị Kiều M không yêu cầu.
Về tài sản chung: Các đương sự không tranh chấp nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lâm Thị Kiều M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyeân xöû:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Thị Kiều M được ly hôn với anh Võ Văn T.
2/ Về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn: Giao 02 người con chung tên Võ Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 26/5/2014; Võ Ngọc Như Y, sinh ngày 02/11/2018 cho chị Lâm Thị Kiều M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Võ Văn T vì chị Lâm Thị Kiều M không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3/ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
4/ Về án phí: Chị Lâm Thị Kiều M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004905 ngày 07/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.
5/ Quyền kháng cáo: Chị Lâm Thị Kiều M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Võ Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Định; - VKSND thị xã An Nhơn; - Chi cục THADS TX An Nhơn; - Các đương sự; - UBND phường B; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Công Giáo |