- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị H đối với bị đơn ông Bùi Văn H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25-11-2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Minh;
2. Ông Nguyễn Ngọc Nghĩa.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 222/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị H, sinh năm 1997. Nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã T, huyện C, tỉnh T. Địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn T, Đường Số 106, Tổ 13, Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt
2. Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã C, huyện C, tỉnh T. Địa chỉ tạm trú: Phòng trọ số 02 - Nhà trọ Ông V, Bà H, Đường Số 51, Tổ 12, Khu phố 2, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 5 năm 2021,bản tự gửi đến Tòa án, nguyên đơn là bà Thái Thị H trình bày:
Bà Thái Thị H và ông Bùi Văn H kết hôn với nhau vào năm 2018, hôn nhân của bà H và ông H là tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh T, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 28/02/2018.
Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông H không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do ông H không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên chơi game khi rảnh rỗi, bà H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không có kết quả. Do đó, hai vợ chồng đã sống ly thân nhàu từ tháng 9/2020 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Bà H yêu cầu được ly hôn với ông H.
Trong thời gian chung sống, bà H và ông H có 01 con chung tên Bùi Thái Gia H, sinh ngày 01/01/20XX, hiện nay con chung đang chung sống với bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai nộp cho Tòa án, bị đơn là ông Bùi Văn H trình bày:
Ông H thống nhất như lời trình bày của bà H về việc kết hôn, thời điểm kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà H.
Về con chung, ông H và bà H có 01 con chung tên Bùi Thái Gia H, sinh ngày 01/01/20XX, hiện nay con chung đang chung sống với bà H.
Nay do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hai vợ chồng đã sống ly thân nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên ông H thống nhất việc ly hôn với bà H.
Sau khi ly hôn, ông H thống nhất việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết
Ngoài những lời trình bày theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu do nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn và bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đều có đơn đề nghị hòa giải, xát xử vắng mặt đối với họ
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Quá trình điều tra, việc thu thập chứng cứ, hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và tống đạt văn bản tố tụng được Tòa án thực hiện đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà H và ông H chung sống như vợ chồng và có tiến hành đăng ký kết hôn với nhau theo quy định. Nay do mâu thuẫn vợ chồng và cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn. Vì vậy, Yêu cầu về việc xin ly hôn của bà H đối với ông H là có căn cứ chấp nhận. Về con chung, bà H và ông H đều thống nhất việc giao con chung là cháu Bùi Thái Gia H, sinh ngày 01/01/20XX, cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay cháu H đang chung sống với bà H ổn định. Vì vậy , việc giao con chung cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp, về cấp dưỡng nuôi con, do bà H không yêu cầu nên ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện bà Thái Thị H là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn là ông Bùi Văn H có địa chỉ cư trú tại phường Phú Tân, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, bà H và ông H đã có lời khai thể hiện ý kiến của mình và đều có đơn đề nghị hòa giải, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H và ông H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị H và ông Bùi Văn H, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh T, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 28/02/2018, là hôn nhân hợp pháp. Bà H và ông H đều xác định, trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn do bất đồng quan điểm và không thể hòa giải được với nhau cũng như vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 9/2020 đến nay. Do đó, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông H là có thật và đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Bà H yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng bà H và ông H có 01 con chung là cháu Bùi Thái Gia H, sinh ngày 01/01/2019. Hiện tại, con chung đang sống cùng bà H, điều kiện chăm sóc, giáo dục được đảm bảo. Vì vậy, việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bà Thái Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Các điều 28, 35, 39, khoản 1 Điều 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị H đối với bị đơn ông Bùi Văn H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị H được ly hôn với ông Bùi Văn H.
- Về con chung: Giao con chung tên Bùi Thái Gia H, sinh ngày 01/01/2019 cho bà Thái Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Bùi Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
Bà Thái Thị H và ông Bùi Văn H đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục con chung thì người đang trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
2. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thái Thị H phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu số AA/2016/0056381 ngày 04/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP. Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Các đương sự (02); - Lưu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thiện |