vanban.org

Bản án 70/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin hôn của ông Nguyễn Tấn Đ với bà Lê Thị Thuý H. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn Đ được ly hôn với bà Lê Thị Thuý H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đại - Hằng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 9 - 2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Thanh Vũ;

Bà Nguyễn Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số: 91/2021/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021; Thông báo đưa vụ án ra xét xử số 184/2021/TBXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C TP. C.

(Có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Bà Lê Thị Thúy H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C TP. C.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Đ trình bày: Qua thời gian tìm hiểu yêu thương nhau, ông Nguyễn Tấn Đ và bà Lê Thị Thúy H đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và làm đám cưới theo phong tục vào năm 1996, đến ngày 20/12/2002 thì tiến hành đăng ký ký kết hôn tại UBND xã Thới Đông, huyện Cờ Đỏ. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến năm 2018 thì bà H đã bỏ nhà đi nơi khác, không có tin tức, nên ông Đđã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ tuyên bố mất tích đối với bà H. Do thấy, hôn nhân không hạnh phúc, bà H đã bỏ đi không có tin tức, nên ông Đxin ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông Đvà bà H có 02 con chung là Nguyễn Minh L (nam), sinh ngày 06/6/2000 và Nguyễn Thị Thúy T(nữ) sinh ngày 24/4/1997. Các con chung hiện đã trưởng thành, nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn Lê Thị Thuý H đã bỏ địa phương đi từ năm 2018, không có tin tức và bị Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2021/VDS-ST ngày 08/3/2021.Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tiến hành thủ tục triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H vẫn vắng mặt không L do, nên phiên hoà giải không thể tiến hành được. Do đó, Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt đối với bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Nguyễn Tấn Đ và bà Lê Thị Thuý H, tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Ông Đcó đơn xin ly hôn với bà H, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tranh chấp này, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Cờ Đỏ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo qui định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bà H có nơi cư trú cuối cùng tại Ấp T, xã T, huyện C TP. C, nhưng vào năm 2018 bà H đã bỏ địa phương đi nơi khác không có tin túc, nên đã bị Toà án tuyên bố mất tích, mặc dù đã dược Toà án tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ, nhưng bà H vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H theo qui định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đvà bà H tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến năm 2018 thì bà H đã bỏ nhà đi nơi khác, không có tin tức, bà H đã bị Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ tuyên bố mất tích. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Toà án triệu tập nhiều lần, nhưng bà H đều vắng mặt, cũng như không có văn bản gửi đến Toà án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của ông Đại. Qua đó, chứng tỏ vợ chồng không có sự quan tâm lẫn nhau, không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Điều đó, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Đvà bà H đã thật sự sâu sắc trầm trọng, mục đích của hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Nên yêu cầu xin ly hôn của ông Đlà có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Các con chung Nguyễn Minh L (nam), sinh ngày 06/6/2000 và Nguyễn Thị Thúy T(nữ) sinh ngày 24/4/1997 đã trưởng thành, nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Do bà H vắng mặt, nên chưa ghi nhận được ý kiến về vấn đề tài sản chung và nợ chung, nên tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp hoặc có yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Ông Đphải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo qui định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 227, 228; 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin hôn của ông Nguyễn Tấn Đ với bà Lê Thị Thuý H.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn Đ được ly hôn với bà Lê Thị Thuý H.

Về con chung: Đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp hoặc có yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Tấn Đ chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông Đđã nộp theo biên lai số 0009043 ngày 27/4/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ thành tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bà Lê Thị Thuý H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sử đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ