vanban.org

Bản án 70/2021/DS-PT — Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 31/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH T N NH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2021/DS-PT
Ngày: 31-3-2021.
V/v tranh chấp yêu cầu hủy
kết quả bán đấu giá tài sản và
thanh toán phí tổn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V ỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH T N NH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang

Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ;

Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh, Thư ký T a án nh n d n t nh T y Ninh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Nguyễn Thị Thu Sinh, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 25 và 31 tháng 3 năm 2021, tại tr sở T a án nh n d n t nh T y Ninh, xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số: 317/2020/TLPT-DS, ngày 16 tháng 11 năm 2020, về việc: “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”.

Do bản án d n sự sơ thẩm số: 84/2019/DS-ST ngày 06 tháng 10 năm 2020 của T a án nhân dân thành phố T y Ninh, t nh T y Ninh bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 357/2020/QĐPT-DS ngày 31 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T – Chấp hành viên Chi c c Thi hành án dân sự huyện T, t nh T y Ninh; Địa ch : Khu phố a, thị trấn t, huyện T n Biên, t nh T.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T: Ông Nguyễn Quốc K – Chấp hành viên Chi c c Thi hành án d n sự huyện T, t nh T y Ninh; Địa ch : Khu phố 7, thị trấn T n Biên, huyện T n Biên, t nh T y Ninh, c m t.

- Bị đơn: TT DV BĐG TS t nh T; Địa ch : Số A, đư ng T, Phư ng A, thành phố T, t nh T y Ninh.

Ngư i đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị L – Phó Giám đốc ph trách.

Ngư i đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà Lý: Bà Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm: 1978; cư trú tại: Số A, đư ng T, Phư ng A, thành phố T, t nh T y Ninh, c m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. C Phạm Văn T2, sinh năm 1934; Địa ch : KP a, TT T n B, huyện T, t nh T.

2. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1963; Địa ch : KP a, TT T n B, huyện T, t nh T.

3. Bà Phạm Thị H1, sinh năm: 1975; Địa ch : Khu phố A, thị trấn T, huyện T, t nh T y Ninh.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của cụ T2, bà H, bà H1: Ông Phạm Văn T3, sinh năm: 1972; Địa ch : Khu phố A, thị trấn T, huyện T, t nh T y Ninh (Là ngư i đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 27-5-2020, 30-9-2013), c m t.

4. Ông Phạm Văn T3, sinh năm: 1972; Địa ch : Khu phố A, thị trấn T, huyện T, t nh T y Ninh, c m t.

5. Ông Trần Văn H3, sinh năm: 1966; Địa ch : Khu phố A, Phư ng A, thành phố T, t nh T. C m t.

6. Bà Lê Ng c H4, sinh năm: 1978; Địa ch : Khu phố A, Phư ng A, thành phố T, t nh T, c m t.

7. Chi c c Thi hành án d n sự huyện T; Địa ch : Khu phố 7, thị trấn T n Biên, huyện T n Biên, t nh T y Ninh. Ngư i đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Chí T3; Ch c v : Chi c c trưởng.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Tài: Ông Nguyễn Quốc K – Ph Chi c c trưởng, Chi c c Thi hành án d n sự huyện T, t nh T y Ninh; Địa ch : Khu phố 7, thị trấn T n Biên, huyện T n Biên, t nh T y Ninh, c m t.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nh n d n thành phố T y Ninh c Quyết định kháng nghị số 05/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20-10-2020.

NỘ DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 31-7-2013, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T, ông Nguyễn Quốc K trình bày:

Theo quyết định tại Bản án số 53/2009/HN-ST ngày 16-9-2009 của T a án nhân dân huyện T n Biên, t nh T y Ninh đã tuyên xử: Giao bà Phạm Thị H được nhận 01 diện tích đất thực tế 384 m2 (6 m x 64 m) c t cận: Đông giáp lộ 22B dài 06m; T y giáp đất c T2 dài 6 m; Nam giáp đất c T2 dài 64 m, Bắc giáp đất c T2 dài 64 m, t a lạc tại khu phố 4, thị trấn T n Biên, huyện T n Biên do UBND huyện T n Biên cấp giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất số 01441 ngày 31-3-2003 đ ng tên Phạm Thị H. Trên đất x y 01 căn nhà cấp 2B, diện tích (5 m x 19,5 m) + (5 m x 11,4 m). Bà Phạm Thị H c trách nhiệm giao lại cho Ông Trần Văn H3 giá trị tài sản chung chênh lệch là 336.799.229 đồng.

Khi bản án c hiệu lực pháp luật, ngư i được thi hành án c đơn yêu cầu thi hành án, Chi c c Thi hành án d n sự huyện T n Biên (sau đ y viết tắt là Chi c c THADS) đã ra Quyết định thi hành án, ấn định th i gian tự nguyện thi hành án nhưng bà H không tự nguyện thi hành và đồng ý giao tài sản nhà đất cho Chi c c THADS bán đấu giá để thi hành án. Ngày 15-4-2010, Chi c c THADS đã kê biên tài sản là quyền sử d ng đất và căn nhà của bà H được nhận theo bản án để đảm bảo việc thi hành án. Chi c c đã đưa tài sản kê biên của bà H ra thẩm định, bán đấu giá theo luật định.

Chi c c THADS (sau đ y g i tắt là Chi c c THADS) c ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với TT DV BĐG TS t nh T (sau đ y viết tắt là Trung t m DVBĐGTS) để bán đấu giá nhà và đất của bà Phạm Thị H. Ngày 23-02-2012, Trung t m tổ ch c bán đấu giá và Ông Trần Văn H3 là ngư i trúng giá với giá trúng là: 690.900.000 đồng. Trung t m trừ chi phí bán đấu giá 13.863.500đ, c n lại chuyển vào tài khoản cho Chi c c THADS số tiền 677.063.500 đồng vào ngày 12-3-2020. Khi tiến hành giao tài sản đấu giá cho ông H3 thì gia đình c T2 yêu cầu khảo sát lại tất cả các phần đất đã cho các con c thì phát hiện căn nhà bà H x y dựng sai so với vị trí thửa đất được cấp giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất, c thể là lấn sang phần đất của c T2 với chiều ngang 3,74 m x dài 15,8 m. Vì vậy, Chi c c THADS T n Biên không tiến hành giao được tài sản cho ông H3. Nguyên nh n khi kê biên tài sản, Chi c c THADS T n Biên không phát hiện ra nhà bà H x y dựng sai so với vị trí đất vì Hội đồng kê biên tài sản căn c vào bản án của T a án c sự ch ng kiến của c T2 và c T2 cũng không c ý kiến gì. Vì vậy Chi c c không giao được nhà, đất cho ông H3 là lý do khách quan, Chi c c THADS T n Biên không thể biết được nhà x y dựng sai vị trí đất.

Nay ông K - Chấp hành viên Chi c c THADS Huyện T n Biên là ngư i kế thừa quyền và nghĩa v của ông T yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 23-02-2012 của TT DV BĐG TS t nh T đối với tài sản bán đấu giá của bà H.

Về hậu quả của việc hủy kết quả bán đấu giá ông K yêu cầu TT DV BĐG TS t nh T trả lại cho Chi c c THADS chi phí bán đấu giá tài sản là 13.863.500 đồng. Chi c c THADS trả lại tiền trúng đấu giá nhà đất cho ông H3 là 690.900.000 đồng.

- Bị đơn, TT DV BĐG TS tỉnh T người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Bích T1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa:

TT DV BĐG TS t nh T (g i tắt là Trung t m) c ký hợp đồng bán đấu giá tài sản số 205/HĐ-BĐG ngày 20-10-2010 với Chi c c THADS để bán đấu giá nhà và đất của bà Phạm Thị H t a lạc tại khu phố 4, thị trấn T n Biên, huyện Tân Biên, t nh T y Ninh và Ph l c hợp đồng số 500/PL-HĐUQ ngày 01-12-2011. Ngày 23-02-2012, Trung t m tổ ch c bán đấu giá, c 03 ngư i tham gia đấu giá là ông Phạm Văn T3, Ông Trần Văn H3, ông Trần Văn H4. Ông H3 là ngư i trúng giá với giá trúng là: 690.900.000đ. Trung t m trừ chi phí bán đấu giá 13.863.500đ c n lại chuyển vào tài khoản cho Chi c c THADS T n Biên số tiền 677.036.500đ vào ngày 12-3-2012.

TT DV BĐG TS t nh T đồng ý hủy kết quả bán đấu giá nhà đất của bà Phạm Thị H. Trung t m dịch v bán đấu giá tài sản không đồng ý trả lại chi phí bán đấu giá 13.863.500 do số tiền này Trung t m đã nộp vào ng n sách nhà nước và Trung t m tổ ch c bán đấu giá đúng theo trình tự, thủ t c pháp luật quy định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chi cục THADS – người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Quốc K trình bày:

Thống nhất với ý kiến của nguyên đơn yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản ngày 23-2-2012. Chi c c THADS c đơn rút yêu cầu độc lập về việc “Tranh chấp đ i tài sản” với bà Phạm Thị H, sau này sẽ khởi kiện lại ở một v án khác.

2. Ông Trần Văn H3 và bà Lê Ngọc H4 trình bày tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa như sau:

Ông H3 và bà H trước đ y là vợ chồng. Năm 2003, c T2 (cha ruột bà H) c cho vợ chồng ông 01 phần đất ngang 06m x dài 64m để x y nhà. Bà H được cấp giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất diện tích 419 m2 thuộc thửa 97, t bản đồ số 36 theo giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất số 01441 ngày 31-3-2003 đ ng tên bà Phạm Thị H.

Năm 2009, ông và bà H ly hôn, bà Phạm Thị H được nhận nhà đất trên và c trách nhiệm giao lại cho Ông Trần Văn H3 giá trị tài sản chung chênh lệch là 336.799.229 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị Quýt 66.895.000đ; trả cho bà Nguyễn Thị Hồng Nhung số tiền 149.454.000 đồng. Do bà H không tự nguyện thi hành án nên Chi c c THADS đã ra Quyết định kê biên tài sản để bán đấu giá và ông H3 mua trúng đấu giá với giá 690.900.000 đồng và đã nộp đủ tiền nhưng đến nay Chi c c THADS vẫn chưa giao được tài sản trúng đấu giá cho ông H3 vì c T2 có tranh chấp. Nay ra T a, ông H3 và bà H4 không đồng ý hủy kết quả bán đấu giá, ông H3 yêu cầu Chi c c THADS phải giao nhà, đất là tài sản trúng đấu giá cho ông. Bà H4 trình bày nếu hủy kết quả bán đấu giá bà H4 đề nghị được nhận lại giá trị nhà đất hiện nay.

3. Bà Phạm Thị H và người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Văn T3 trình bày:

Trước đ y bà H và ông H3 là vợ chồng. C T2 cha bà cho đất cho mỗi ngư i con ngang 6m. Sau khi c T2 làm giấy cho đất năm 2003, bà H mới x y nhà, bà không nhớ c cán bộ địa chính xuống đo đạc không. Việc x y nhà do ông H3 tiến hành x y dựng trên đất trống. Th i điểm x y nhà, ông H3 thấy đất trống thì x y dựng, bà H không quan t m c x y dựng đúng vị trí hay không.

Năm 2009, vợ chồng ly hôn tài sản nhà đất trên giao cho bà H và bà H có trách nhiệm giao lại cho Ông Trần Văn H3 giá trị tài sản chung chênh lệch là 336.799.229đ; trả cho bà Nguyễn Thị Quýt 66.895.000đ; Trả cho bà Nguyễn Thị Hồng Nhung số tiền 149.454.000 đồng.

Nếu c căn c nhà x y dựng sai so với vị trí đất, không giao được tài sản cho ông H3 thì bà H chấp nhận hủy kết quả bán đấu giá tài sản.

4. Cụ Phạm Văn T2 và người đại diện theo ủy quyền của cụ T2 –ông Phạm Văn T3 trình bày:

C T2 được UBND huyện T n Biên cấp giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất diện tích 4.602m2 thuộc 0036, 0038, 0038 t bản đồ số 0048 t a lạc tại khu Phố 4, thị trấn T n Biên theo Giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất số W 773896 cấp ngày 11-6-2003. Năm 2003, c T2 có cho bà H diện tích đất ngang 06 x dài 64m để x y dựng nhà. C T2 không ch vị trí x y dựng nhà mà ch lên UBND Thị trấn T n Biên làm giấy cho đất cho bà H. Khi làm giấy ch ng nhận ch ng nhận quyền sử d ng cán bộ địa chính c xuống đo đạc để cắt thửa trên bản đồ địa chính nhưng không c cắm mốc. Sau khi c T2 làm thủ t c cho đất xong, bà H mới x y dựng nhà. Trước khi c T2 cho đất bà H c làm giấy cho đất cho các con. Phần đất giáp ranh với ông Hiếu, bà Liên đã x y dựng nhà đã từ l u, không nhớ rõ c thể th i gian, nhưng trước khi bà H x y dựng nhà. Từ ranh đất nhà bà Liên tới ranh nhà bà H khoảng hơn 10m. Giáp rông nhà bà H c trại h m của c T2 x y dựng năm 2004.

Nguyên nhân nhà bà H x y dựng sai so với vị trí đất là lỗi của ông H3, bà H khi x y dựng nhà không yêu cầu cán bộ địa chính xuống xác định vị trí đất.

Nay ra Tòa, c T2 xác định nhà bà H x y dựng sai thửa và lấn qua đất nhà ông nên yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản. Đối với yêu cầu bồi thư ng thiệt hại thì sau này c T2 sẽ khởi kiện theo quy định pháp luật, không yêu cầu giải quyết trong v án này.

5. Ông Phạm Văn T3 và bà Phạm Thị Hồng trình bày:

Năm 2004, ông T3 kết hôn với bà H1 (con c T2). Trước khi kết hôn bà H1 được c T2 x y dựng cho căn nhà trên diện tích 6m đất ngang giáp ranh đất bà H và c T2. Giáp ranh đất bà H là c mái che bằng tole ngang 01 m rồi đến căn nhà của bà H1 do c T2 x y c chiều ngang 5,4m, rồi đến đất c T2. Giữa đất của bà H1, ông T3 với đất bà H và c T2 không c n đất trống. Vợ chồng ông T3, bà H1 được cấp giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất vào năm 2012 với diện tích 08 m ngang. Khi cán bộ địa chính đo đạc cấp giấy đất cho ông bà c biết hiện trạng đất như trên nhưng c T2 n i c đo từ nhà bà H sang phía c T2 đủ 08 m ngang. M c dù c lấn vào phần ô văng nhà c T2 nhưng c T2 vẫn yêu cầu cán bộ địa chính đo đạc và làm giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất cho ông bà ngang 08 m đất. Ông T3, bà H1 xác định phần đất của ông bà không lấn qua đất của bà H mà chồng lấn sang nhà đất của c T2.

Ông T3, bà H1 đồng ý hủy kết quả bán đấu giá tài sản nhà đất của bà Phạm Thị H. Đối với yêu cầu bồi thư ng thiệt hại thì sau này ông, bà sẽ khởi kiện theo quy định pháp luật, không yêu cầu giải quyết trong v án này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 84/2020/DS-ST ngày 06 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn c các Điều 137, 411, 456, 457, 458, 459 Bộ luật d n sự 2005; Điều 46, 71, 73, 89, 94, 98, 100, 101, 102, 111 Luật thi hành án d n sự năm 2008; Điều 38 Luật trách nhiệm bồi thư ng của Nhà nước 2009; Nghị định số 17/2010/NĐ - CP ngày 04-3-2010 của Chính phủ về bán đấu giá; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng v Quốc hội qui định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với TT DV BĐG TS t nh T về việc “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”.

Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản số: 205/HĐUQ-BĐG ngày 20-10-2010 giữa Chi c c Thi hành án huyện T n Biên, t nh T y Ninh với Trung t m dịch v bán đấu giá tài sản T y Ninh và Ph l c hợp đồng số 500/PL-HĐUQ ngày 01-12-2011 là vô hiệu.

Tuyên bố hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 07/HĐMB-TTDVBĐG ngày 23-02-2012 giữa Trung t m dịch v bán đấu giá tài sản T y Ninh, bên ủy quyền bán đấu giá Chi c c THADS, t nh T y Ninh với ngư i mua được tài sản đấu giá Ông Trần Văn H3 đối với diện tích đất 384m2 thuộc thửa 97 t bản đồ số 46 đất t a lạc tại khu phố 4, thị Trấn t n Biên, huyện T n Biên, t nh Tây Ninh do bà Phạm Thị H đ ng tên trong giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc đ i lại số tiền 13.863.500 đồng từ TT DV BĐG TS t nh T.

3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc hoàn trả cho bà H4, ông H3 số tiền mua trúng đấu giá tài sản là 690.900.000 đồng.

Buộc Chi c c THADS, t nh T y Ninh c nghĩa v trả cho Ông Trần Văn H3, bà Lê Ng c H4 số tiền đã nộp mua tài sản là 690.900.000 (Sáu trăm chín mươi triệu chín trăm nghìn) đồng và 1.204.912.500 (Một tỷ hai trăm lẻ bốn triệu chín trăm mư i hai nghìn năm trăm) đồng tiền giá trị tài sản chênh lệch. Tổng cộng, Chi c c THADS, t nh T y Ninh c nghĩa v trả cho Ông Trần Văn H3 và bà Lê Ng c H4 số tiền 1.895.812.500 (Một tỷ tám trăm chín mươi lăm triệu tám trăm mư i hai nghìn năm trăm) đồng.

Buộc Ông Trần Văn H3 và bà Lê Ng c H4 giao lại toàn bộ diện tích đất 384m2 thuộc thửa 97 t bản đồ số 46 đất t a lạc tại khu phố 4, thị Trấn t n Biên, huyện T n Biên, t nh T y Ninh do Ông Trần Văn H3, bà Lê Ng c H4 đ ng tên trong giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất số CĐ 1844580 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng t nh T y Ninh cấp ngày 21-7-2016 cho Chi c c THADS, t nh T y Ninh tạm quản lý. Đất c t cận như sau:

+ Đông giáp quốc lộ 22B dài 06m;

+ T y giáp đất ông Phạm Văn T2 dài 06m;

+ Nam giáp đất ông Phạm Văn T2 dài 54m;

+ Bắc giáp đất ông Phạm Văn T2 dài 54m.

Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trư ng t nh T y Ninh thu hồi và hủy bỏ Giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất của Ông Trần Văn H3, bà Lê Ng c H4 thửa đất số 97, t bản đồ số 46, số CĐ 1844580 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng t nh T y Ninh cấp ngày 21-7-2016.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí; chi phí tố t ng; quyền, nghĩa v thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20 tháng 10 năm 2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nh n d n thành phố T y Ninh c Quyết định kháng nghị số 05/QĐKNPT-VKS-DS đối với Bản án d n sự sơ thẩm số 84/2020/DS-ST ngày 06-10-2020 của T a án nh n d n thành phố T y Ninh theo hướng hủy đình ch đối với yêu cầu bồi thư ng thiệt hại; sửa án phí và quan hệ pháp luật tranh chấp.

Tại phiên t a phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Tây Ninh giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 05/QĐKNPT-VKS-DS, c bổ sung tại phiên t a về xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá và và thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án d n sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố t ng d n sự.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tố t ng: Hội đồng xét xử, Thư ký T a án tu n thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố t ng d n sự từ giai đoạn th lý đến khi giải quyết v án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố t ng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nh n d n thành phố T y Ninh và ý kiến bổ sung của Kiểm sát viên tại phiên t a, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định trong kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung v án, căn c vào các tài liệu, ch ng c đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh t ng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá và yêu cầu trả số tiền 13.863.5000 đồng – Chi phí bán đấu giá, với lý do khi kê biên tài sản, Chi c c THADS T n Biên không phát hiện ra nhà bà H x y dựng sai so với vị trí đất do đ Chi c c không giao được nhà, đất cho ông H3.

Căn c theo quy định tại Điều 102 Luật Thi hành án d n sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014):

“1. Việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản; trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.

2. Người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản.

3. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy được giải quyết theo quy định của pháp luật.”

Nguyên đơn xác định việc trình tự thủ t c bán đấu giá của TT DV BĐG TS t nh T đã thực hiện là đúng trình tự thủ t c quy định của Luật bán đấu giá, việc khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá là do không thể tiến hành bàn giao tài sản cho ngư i mua trúng đấu giá vì c sự sai s t trong quá trình kê biên tài sản, nên xác định quan hệ tranh chấp trong v án này là “Tranh chấp yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá và và thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”.

T a án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong v án là “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá” là chưa chính xác, do đ c căn c chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nh n d n thành phố T y Ninh về việc điều ch nh lại quan hệ tranh chấp theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Để thực hiện việc thi hành Bản án Hôn nh n và gia đình số: 53/2009/HNGĐ-ST của T a án nh n d n huyện T n Biên, đối với ngư i phải thi hành án là bà Phạm Thị H, tài sản để thi hành án là phần đất diện tích thực tế là 384 m2 (6m x 64m), thửa đất số 97, t bản đồ số 36, đất t a lạc tại khu phố 4, thị trấn T n Biên, huyện T n Biên, t nh T y Ninh, trên đất c 01 căn nhà cấp 2B, Chi c c THADS đã kê biên tài sản trên và tiến hành các trình tự xử lý kê biên, sau đ ký Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản số: 205/HDDUQ-BĐG ngày 20-10-2010 với TT DV BĐG TS t nh T. Ngư i mua trúng đấu giá là Ông Trần Văn H3 với giá 690.900.000 đồng, tại Hợp đồng mua bán tài sản bản đấu giá số 07/HĐMB-TTDVBĐGTS ngày 23-02-2012. Trong quá trình bàn giao tài sản cho ông H3 thì không thể tiến hành, do tài sản của bà H là căn nhà trên đất x y dựng sai vị trí với thửa đất, c thể nhà của bà H được x y dựng trên 03 thửa đất là thửa 97 của bà H, thửa 36 của c T2 và thửa 204 của ông T3, tình trạng này Chi c c THADS không thể khắc ph c được, việc duy trì kết quả bán đấu giá trên cũng không phù hợp thực tế sử d ng nhà đất. Do đ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản. Căn c vào Điều 411 của Bộ luật D n sự năm 2005, T a án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản là c căn c , đúng pháp luật.

Do vi phạm Điều 1 của Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 07/HĐMB-TTDVBĐG ngày 23-02-2012, về tài sản không đúng thực tế sử d ng nên hợp đồng mua bán trên là vô hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 07/HĐMB-TTDVBĐG ngày 23-02-2012 là không chính xác, T a án cấp phúc thẩm điều ch nh lại theo đúng quy định của pháp luật.

Việc không tiến hành bàn giao được tài sản cho ngư i mua trúng đấu giá xuất phát từ thủ t c kê biên tài sản không đúng với hiện trạng thực tế sử d ng đất của ngư i phải thi hành án, nguyên đơn cũng đã thừa nhận lỗi do Chấp hành viên, TT DV BĐG TS t nh T đã thực hiện đúng trình tự thủ t c bán đấu giá, T a án cấp sơ thẩm xác định lỗi hoàn toàn do Chấp hành viên là phù hợp, do đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Trung t m trả số tiền 13.863.500 đồng, chi phí đấu giá là c căn c .

Từ hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá là vô hiệu do tài sản nêu trên không phù hợp với thực tế sử d ng nhà đất theo quy định tại Điều 1 của hợp đồng dẫn đến yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá và hợp đồng ủy quyền bán đấu giá vô hiệu, quyền lợi của ông H3, bà H4 mua trúng đấu giá, giao tiền mua trúng đấu giá đầy đủ nhưng chưa nhận được tài sản đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H3, bà H4. Thiệt hại này là chuỗi hành vi từ việc kê biên sai của Chấp hành viên, thủ t c bán đấu giá và mua bán đấu giá không thực hiện được. Theo khoản 3 Điều 102 của Luật Thi hành án d n sự và khoản 2 Điều 48 của Nghị định 17/2010/NĐ-CP quy định về việc hủy kết quả bán đấu giá nếu g y thiệt hại phải bồi thư ng theo quy định của pháp luật nhưng quy định chung chung chưa c thể về trách nhiệm bồi thư ng.

Yêu cầu của ông H3 và bà H4 yêu cầu trả lại giá trị nhà đất theo hiện nay nhận thấy: Ông H3 và bà H4 bị thiệt hại từ Hợp đồng mua bán tài sản trúng đấu giá là hợp đồng d n sự, hợp đồng bị tuyên vô hiệu nên việc xác định lỗi yêu cầu bồi thư ng sẽ được điều ch nh bởi Bộ luật D n sự. Ngoài ra, việc tách trách nhiệm bồi thư ng thiệt hại của Cơ quan Thi hành án d n sự ra để bồi thư ng theo Luật Trách nhiệm bồi thư ng thiệt hại Nhà nước sẽ kéo dài v án làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích của ngư i bị thiệt hại, do đ T a án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông H3, bà H4 nhận lại giá trị nhà đất thực tế là c cơ sở. Giá trị chênh lệch do với th i điểm ông H3 mua trúng đấu giá chênh lệch 1.204.912.500 đồng, theo Biên bản định giá tài sản, ngày 23-7-2020 của T a án nh n d n thành phố T y Ninh, buộc Chi c c Thành án d n sự huyện T n Biên hoàn trả cho ông H3, bà H4 là đúng quy định pháp luật, do đ không c cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát về việc hủy và đình ch giải quyết đối với yêu cầu bồi thư ng thiệt hại và tách v án giải quyết theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thư ng thiệt hại Nhà nước.

Về án phí d n sự sơ thẩm:

T a án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng lại không buộc bị đơn chịu án phí không c giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện về hủy kết quả bán đấu giá là không đúng quy định. Do đ c căn c chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát về việc điều ch nh lại án phí d n sự sơ thẩm, buộc bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm.

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đồng ý hủy kết quả bán đấu giá hoàn trả lại cho ngư i mua trúng đấu giá ông H3, bà H4 số tiền mua trúng đấu giá là 690.900.000 đồng, việc T a án cấp sơ thẩm tính án phí d n sự sơ thẩm đối với khoản tiền này không phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đ i lại số tiền 13.863.5000 đồng – Chi phí bán đấu giá (yêu cầu thanh toán phí tổn) không được chấp nhận nhưng T a án cấp sơ thẩm lại tính án phí sơ thẩm cho Chi c c THADS là ngư i c quyền lợi, nghĩa v liên quan là không đúng theo quy định của pháp luật mà phải tính án phí đối với nguyên đơn do yêu cầu khởi kiện của h không được chấp nhận.

Từ những ph n tích trên, T a án cấp phúc thẩm sửa lại án phí d n sự sơ thẩm theo hướng nhận định trên.

Vì các lẽ trên;

QU ẾT ĐỊNH:

1. Căn c khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự;

- Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nh n d n thành phố T y Ninh theo Quyết định kháng nghị số 05/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20-10-2020.

- Sửa Bản án d n sự sơ thẩm số 84/2020/DS-ST ngày 06 tháng 10 năm 2020 của T a án nh n d n thành phố T y Ninh, t nh T y Ninh:

2. Căn c các Điều 137, 411, 456, 457, 458, 459 Bộ luật d n sự 2005; Điều 46, 71, 73, 89, 94, 98, 100, 101, 102, 111 Luật thi hành án d n sự năm 2008; Điều 7, 38 Luật trách nhiệm bồi thư ng của Nhà nước 2009; Nghị định số 17/2010/NĐ - CP ngày 04-3-2010 của Chính phủ về bán đấu giá; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng v Quốc hội qui định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với TT DV BĐG TS t nh T về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản và thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án d n sự”.

2.2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc đ i lại số tiền 13.863.500 đồng từ TT DV BĐG TS t nh T

2.3. Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản số: 205/HĐUQ-BĐG ngày 20-10-2010 giữa Chi c c Thi hành án d n sự huyện T n Biên, t nh T y Ninh với Trung t m dịch v bán đấu giá tài sản T y Ninh và Ph l c hợp đồng số 500/PL-HĐUQ ngày 01-12-2011 là vô hiệu.

2.4. Tuyên bố Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 07/HĐMB-TTDVBĐG ngày 23-02-2012 giữa Trung t m dịch v bán đấu giá tài sản T y Ninh, bên ủy quyền bán đấu giá Chi c c Thi hành án d n sự huyện T n Biên, t nh T y Ninh với ngư i mua được tài sản đấu giá Ông Trần Văn H3 đối với diện tích đất 384m2 thuộc thửa 97 t bản đồ số 46 đất t a lạc tại khu phố 4, thị Trấn t n Biên, huyện T n Biên, t nh T y Ninh do bà Phạm Thị H đ ng tên trong giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất là vô hiệu.

2.5. Chi c c Thi hành án d n sự huyện T n Biên, t nh T y Ninh c nghĩa v trả cho Ông Trần Văn H3, bà Lê Ng c H4 số tiền đã nộp mua tài sản là 690.900.000 (Sáu trăm chín mươi triệu chín trăm nghìn) đồng.

2.6. Ông Trần Văn H3 và bà Lê Ng c H4 c nghĩa v giao lại toàn bộ quyền sử d ng đất diện tích 384 m2, thuộc thửa 97, t bản đồ số 46, đất t a lạc tại khu phố 4, thị Trấn t n Biên, huyện T n Biên, t nh T y Ninh do Ông Trần Văn H3, bà Lê Ng c H4 đ ng tên trong giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất số CĐ 1844580 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng t nh T y Ninh cấp ngày 21-7-2016 cho Chi c c THADS, t nh T y Ninh tạm quản lý. Đất c t cận như sau:

+ Đông giáp quốc lộ 22B dài 06m;

+ T y giáp đất ông Phạm Văn T2 dài 06m;

+ Nam giáp đất ông Phạm Văn T2 dài 54m;

+ Bắc giáp đất ông Phạm Văn T2 dài 54m.

Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trư ng t nh T y Ninh thu hồi và hủy bỏ Giấy ch ng nhận quyền sử d ng đất của Ông Trần Văn H3, bà Lê Ng c H4 thửa đất số 97, t bản đồ số 46, số CĐ 1844580 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng t nh T y Ninh cấp ngày 21-7-2016.

2.7. Buộc Chi c c Thi hành án d n sự huyện T n Biên, t nh T y Ninh c nghĩa v bồi thư ng cho Ông Trần Văn H3 và bà Lê Ng c H4 số tiền 1.204.912.500 (Một tỷ, hai trăm lẻ bốn triệu, chín trăm mư i hai nghìn năm trăm) đồng tiền giá trị tài sản chênh lệch.

Tổng cộng, Chi c c THADS, t nh T y Ninh c nghĩa v trả cho Ông Trần Văn H3 và bà Lê Ng c H4 số tiền (690.900.000 đồng + 1.204.912.500 đồng) là 1.895.812.500 (Một tỷ tám trăm chín mươi lăm triệu tám trăm mư i hai nghìn năm trăm) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định c hiệu lực pháp luật (đối với các trư ng hợp cơ quan thi hành án c quyền chủ động ra quyết định thi hành án) ho c kể từ ngày c đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật D n sự năm 2015, trừ trư ng hợp pháp luật c quy định khác.

2.8. Chi phí tố t ng: Chi c c Thi hành án d n sự huyện T n Biên, t nh T y Ninh phải chịu 1.000.000 (Một triệu) đồng. Đã nộp xong.

2.9. Đình ch giải quyết yêu cầu độc lập của Chi c c Thi hành án d n sự huyện T n Biên, t nh T y Ninh đối với bà Phạm Thị H về việc “Tranh chấp đ i tài sản”.

Hoàn trả cho Chi c c THADS, t nh T y Ninh số tiền tạm ng án phí 18.318.000 (Mư i tám triệu ba trăm mư i tám nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006626 ngày 26-02-2019 của Chi c c Thi hành án d n sự thành phố T y Ninh, t nh T y Ninh.

Chi c c THADS được quyền khởi kiện lại v án “Tranh chấp đ i tài sản” theo quy định pháp luật.

2.10. Án phí d n sự sơ thẩm :

- TT DV BĐG TS t nh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá.

- Ông Nguyễn Văn T phải chịu 693.175 (sáu trăm chín mươi ba nghìn, một trăm bảy mươi lăm) đồng về yêu cầu thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án d n sự.

- Chi c c THADS phải chịu 48.147.375 (bốn mươi tám triệu, một trăm bốn mươi bày đồng, ba trăm bảy mươi lăm) đồng, được trừ vào số tiền tạm ng án phí d n sự đã nộp là 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0004814 ngày 06-8-2013, Chi c c THADS c n phải nộp 47.947.375 (bốn mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi bảy nghìn, ba trăm bảy mươi lăm) đồng.

3. Án phí d n sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

4. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trư ng hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì ngư i được thi hành án d n sự, ngư i phải thi hành án d n sự c quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án d n sự ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

.

Cỡ chữ