- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo NVL tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NVL phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2020/HSST Ngày: 22/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Thiện
2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2020/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
NVL, sinh năm: 1992, tại Cần Thơ; Giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Số xxx, yyy, zzz; Chỗ ở: Như trên; Trình độ học vấn: Không biết chữ ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: NTS (chết); Mẹ: LTD, sinh năm 1969 (sống); Vợ: BTN, sinh năm 1996 ; Con: 01 con, sinh năm 2014; Anh chị em ruột: không có; Tiền sự: chưa.
Tiền án: 01 lần, ngày 12/12/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 06 tháng tù về Tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 27/02/2012, thi hành xong án phí ngày 19/11/2019 (bút lục 51-54).
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà LTTT
sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số xxxxx.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà TKN, sinh năm 1999
(vắng mặt)
Địa chỉ: Số xxxxx.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 14/9/2019, bị cáo NVL đang ngồi uống rượu với bạn ở trước nhà không số cạnh Số xxxxx. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bà LTTT cùng con gái là TKN rời khỏi nhà Số xxxxx, để chở cháu ngoại đi khám bệnh, thấy bị cáo L ngồi uống rượu lấn lối đi chung nên bà T phàn nàn, lúc này bị cáo L không nói gì và dọn dẹp đi vào nhà. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, L đến nhà bà T mang theo một cây sắt để cạy ổ khóa nhà của bà T, sau đó bị cáo L đột nhập vào bên trong lấy trộm tài sản.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bà T và chị N về nhà thì phát hiện nhà bị mất trộm tài sản. Đến 22 giờ 45 phút cùng ngày, chị N đến Công an phường Cái Khế trình báo sự việc.
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 17/9/2019, bị cáo NVL đến Công an phường Cái Khế đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản của bà LTTT.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 cây sắt dạng ống, màu đen, đường kính 03cm, dài 50cm, có cán nhựa màu đen;
- 02 ổ khóa bằng kim loại màu vàng hiệu Việt Tiệp và một số đồ trang sức bằng kim loại màu trắng đã được niêm phong.
- 09 trái táo màu đỏ, loại Hàn Quốc, trọng lượng 01 kg, 03 cái bánh trung thu hiệu Kinh Đô; 04 cái bánh in hiệu Tân Huê Viên; 17 cái bánh pía chay hiệu Tân Huê Viên; 01 chai nước hoa hiệu Chanel.
Tại kết luận định giá tài sản số: 1274/BKL-HĐĐG ngày 31/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Ninh Kiều kết luận: 09 trái táo đỏ Hàn Quốc, trọng lượng 01 kg, 03 cái bánh trung thu hiệu Kinh Đô; 04 cái bánh in hiệu Tân Huê Viên; 17 cái bánh pía chay hiệu Tân Huê Viên; 01 chai nước hoa hiệu Chanel, có tổng giá trị là 1.521.000 đồng.
Đối với một số đồ trang sức kim loại và dây chuyền ngọc trai đã được giám định là tài sản không có giá trị, Hội đồng không có cơ sở để định giá phần tài sản này theo yêu cầu của Công an quận.
Ngày 31/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Ninh Kiều ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bà LTTT. Về trách nhiệm dân sự bà T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Về nhân thân của bị cáo NVL: ngày 12/12/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 06 tháng tù về Tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 27/02/2012, thi hành xong án phí ngày 19/11/2019. Đến thời điểm NVL thực hiện hành vi phạm tội chưa được xóa án tích.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSNK ngày 03 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo NVL về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức về việc làm của bị cáo đã vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại vắng mặt không thể hiện ý kiến gì thêm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, bị hại có ý kiến đề nghị không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không có yêu cầu gì thêm.
Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo NVL về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo NVL từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Đối với vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 xử lý tịch thu tiêu hủy: cây sắt dạng ống bị cáo đã sử dụng để mở cửa nhà bị hại. Đối với các tài sản bị cáo trọm của bị hại, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho người bị hại, người bị hại đã nhận xong nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy, ngày 14/9/2019 NVL đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở khi quản lý tài sản của người bị hại LTTT nên đã lén lút lấy trộm tài sản gồm: 09 trái táo đỏ Hàn Quốc, trọng lượng 01 kg, 03 cái bánh trung thu hiệu Kinh Đô; 04 cái bánh in hiệu Tân Huê Viên; 17 cái bánh pía chay hiệu Tân Huê Viên; 01 chai nước hoa hiệu Chanel. Tại kết luận định giá tài sản số: 1274/BKL-HĐĐG ngày 31/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Ninh Kiều kết luận: các tài sản trên có tổng giá trị là 1.521.000 đồng.
Riêng một số đồ trang sức kim loại và dây chuyền ngọc trai đã được giám định là tài sản không có giá trị, Hội đồng không có cơ sở để định giá phần tài sản này theo yêu cầu của Công an quận.
Mặc dù, tổng giá trị tài sản bị cáo L trộm không đủ định lượng nhưng do L có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm tài sản nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét bị cáo đã thành niên, có đủ năng lực hành vi, có sức khỏe và khả năng lao động, chỉ vì mâu thuẫn cá nhân, bực tức mà bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để lén lút lấy trộm tài sản. Bị cáo biết rõ lấy trộm tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương, cần xử lý nghiêm.
- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có tiền án về trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo không biết sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Từ đó, cho thấy bị cáo đã xem thường pháp luật, bị cáo không có ý thức sửa đổi bản thân.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và trong quá trình điều tra phía người bị hại đã có ý kiến không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội sau này. Do đó, bị cáo phải chịu hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình.
Vì vậy, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp. Tuy nhiên, do bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ là người bị hại không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 cây sắt dạng ống, màu đen, đường kính 03cm, dài 50cm, có cán nhựa màu đen là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với các tài sản gồm: 09 trái táo đỏ Hàn Quốc, trọng lượng 01 kg, 03 cái bánh trung thu hiệu Kinh Đô; 04 cái bánh in hiệu Tân Huê Viên; 17 cái bánh pía chay hiệu Tân Huê Viên; 01 chai nước hoa hiệu Chanel và một số đồ trang sức kim loại và dây chuyền ngọc trai, ngày 31/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận Ninh Kiều ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bà LTTT. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào: - Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo NVL phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo NVL 09 (chín) tháng tù giam.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 cây sắt dạng ống, màu đen, đường kính 03cm, dài 50cm, có cán nhựa màu đen.
+ Không đặt ra xem xét giải quyết đối với các tài sản bị hại đã nhận lại theo Quyết định xử lý vật chứng số 05 ngày 31/12/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an quận Ninh Kiều.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo NVL phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
| *Nơi nhận: - Bị cáo; - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Q. Ninh Kiều; - Công an Q. Ninh Kiều; - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều; - Tòa án nhân dân TP.Cần Thơ; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Yến Nhi |