- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn H + đồng phạm (03) bị cáo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Ngô Văn H 09 (chín) tháng tù, về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2020/HS-ST Ngày 24/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân
: Ông Dương Văn Xuyên
Ông Nguyễn Đăng Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị H- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:
1.Ngô Văn H, sinh năm 1963 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối X, xã L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá : Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Đ (c) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là: Lê Thị và 04 con lớn sinh năm 1989 nhỏ sinh năm 2001; tiền án: không; tiền sự: Không; nhân thân: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2.Ngô Văn D, sinh năm 2001 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối 12, xã L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá : Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H và bà Lê Thị M; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
3.Ngô Văn T, sinh năm 1999 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối Y, xã L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá : Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H và bà Lê Thị M; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại:
-Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1962, có mặt
Nơi cư trú: Khối M, thôn Z, xã L, Sóc Sơn, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h ngày 11/3/2020, ông Nguyễn Tiến D đi cùng Ngô Văn H đến cơ sở kinh doanh tầm quất của chị Vũ Thu H ở Khối 14, xã L, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tại đây, ông D và Hà gọi mỗi người 01 lon bia Hà Nội và 01 bao thuốc lá Thăng Long, sau đó cả hai ngồi uống bia và nước trà cùng nhau. Đến khoảng 22h40’ cùng ngày, Hà dắt xe máy về trước và hỏi chị H để thanh toán tiền thì ông D nói “ thôi mày về đi để tao trả cho”, Hà nói với ông D “ tưởng tao không có tiền à” và hỏi “ bao nhiêu tiền”, ông D bảo “ đưa cho nó bốn năm chục gì đấy”. Hà đưa cho chị H 10.000đ và nói “ chúng mày bịt à”. Ông D tiếp tục bảo Hà là để ông D trả tiền thì Hà đưa cho chị H 50.000đ, chị H trả lại Hà 10.000đ, sau đó Hà đi về. Sau khi về đến nhà, Hà kể lại chuyện uống chén nước trà mà phải trả 50.000đ với con trai là Ngô Văn D và Ngô Văn T đồng thời Hà bảo D, T đến cơ sở của chị H xem sao. Ngô Văn D đi cùng với H1 (bạn D) đi trước, Hà cầm theo 01 con dao cùng T đi xe máy BKS 29S1-XXX.XX đến sau. Khi đến nơi, Ngô Văn D vào gặp ông D hỏi chuyện thì bị ông D dùng tay tát 01 phát trúng mặt, D dùng tay vít cổ ông D và tát 01 cái vào mặt ông D, quật ông D ngã xuống nền nhà. Do thấy em trai mình bị tát nên T đã cầm 01 viên gạch chạy vào đập ông D thì ông D đưa tay lên đỡ làm viên gạch đập trúng khuỷu tay. H cầm dao chạy vào chém 01 nhát trúng vào vùng chẩm phía sau đầu của ông D gây thương tích. Sau đó H, T dùng chân đạp ông D. Ông D đứng dậy nhặt viên gạch T cầm lúc trước giơ lên thì H cũng cầm dao giơ lên dọa ông D. Thấy vậy, T, D đã đẩy ông D và H ra. Sau đó chị H và chồng là anh Oanh đã can ngăn nên 3 bố con nhà H đi về còn ông D được đưa vào Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn khám và điều trị.
Căn cứ vào bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn xác định thương tích của ông D như sau: 01 vết thương vùng đầu chẩm dài gần 7cm, sâu 1,5cm, vết thương nằm ngang, sắc gọn còn rỉ máu, có mẻ xương sọ vùng chẩm. Đau, sưng nề sống mũi, có rách da mũi khoảng 01 x 01cm. Sưng nề khuỷu tay phải, có 01 vết thương dài khoảng 01cm sắc gọn, sưng nề, bầm đỏ ngực trái 02 x 02cm. XQ: Gãy đầu quay phải.
Tại bản kết luận giám định số 212 ngày 17/3/2020 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận thương tích của ông D tại thời điểm giám định như sau:
-Vết thương phần mềm vùng chẩm: 02%.
-Các vết thâm biến đổi sắc tố da, sây sát da vùng mũi và môi trên bên trái: 1,5%.
-Mẻ xương sọ vùng chẩm trái: 05%.
-Vỡ mẻ đầu trên xương quay bên phải (đài quay): 02%.
-Các chạm thương phần mềm không ảnh hưởng chức năng: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này.
-Hiện chưa đánh giá được chính xác mức độ di chứng các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.
-Nhiều khả năng vết thương vùng chẩm do vật có cạnh sắc gây ra và các chạm thương, tổn thương khác do vật tày, tày có cạnh gây ra.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 10%.
Đối với anh H1 là bạn Ngô Văn D chỉ đi cùng D đến quán của chị H, anh H1 không biết và không tham gia vào việc đánh ông D nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn không đề cập, xử lý là phù hợp.
Đối với chiếc xe máy BKS 29S1-XXX.XX là tài sản hợp pháp của chị Ngô Thị H (con gái Ngô Văn H). Chị H cho H mượn xe từ ngày 10/3/2020, chị Hạnh không biết H sử dụng chiếc xe máy này vào việc phạm tội nên ngày 05/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy trên cho chị H là phù hợp.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên, các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Người bị hại là ông Nguyễn Tiến D trình bày: Khoảng 22h ngày 11/3/2020, do khó ngủ nên ông đã đi đến quán tẩm quất của chị H ở Khối N, thôn L để tầm quất, mát xa cho dễ ngủ. Trên đường đi ông gặp Ngô Văn H là người quen nên rủ H đi cùng. Khi đến nơi, cả hai gọi 02 lon bia và 01 bao thuốc lá Thăng Long. Sau khi uống xong, ông H đứng lên thanh toán tiền và đi về trước. Khoảng 40 phút sau thì 3 bố con ông H đến quán chị H gây sự với ông, do bức xúc với thái độ của D (con trai ông H) nên ông đã tát D 1 cái vào mặt, sau đó thì D đã túm vai ông kéo xuống, thúc gối vào vùng bụng và ngực của ông, T thì dùng gạch đập vào khủy tay, H cầm dao chém vào vùng phía sau đầu của ông. Sau đó, sự việc được hai vợ chồng chị H vào can ngăn, 3 bố con H đi về còn ông được đưa đến Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn khám và điều trị. Kết quả giám định ông bị tổn hại 10% sức khỏe. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, ông không đề nghị 3 bố con bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông, ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 25/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo, về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134 ; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Ngô Văn H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Xử phạt: Ngô Văn D và Ngô Văn T mức án từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Về dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các tang vật đã thu giữ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Khoảng 23h ngày 11/3/2020, tại quán của chị Vũ Thu H ở Khối N, thôn L, Sóc Sơn, Hà Nội, Ngô Văn H, Ngô Văn D và Ngô Văn T đã có hành vi dùng dao, gạch đánh gây thương tích cho ông Nguyễn Tiến D làm ông D bị tổn hại 10% sức khỏe. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, câu kết chặt chẽ nên không phải là phạm tội có tổ chức.
Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo H là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phạm tội và bị cáo là người cầm dao chém trực tiếp ông D nên giữ vai trò đầu vụ. Bị cáo D và T tham gia với vai trò đồng phạm, giúp sức.
Nguyên nhân dẫn đến việc sô xát giữa các bị cáo với bị hại là do có sự hiểu nhầm trong việc thanh toán tiền nước uống. Tuy nhiên người bị hại cũng có một phần lỗi, đó là tát bị cáo D trước. Do vậy, căn cứ vào tính chất vụ án cũng như nhân thân của các bị cáo, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa người bị hại là ông Nguyễn Tiến D không yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của D không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
. Về tang vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn có thu giữ của các bị cáo: 01 con dao phay, 01 viên gạch. Xét toàn bộ số tang vật này là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Ngô Văn H 09 (chín) tháng tù, về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Ngô Văn D 07 (bẩy) tháng tù, về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Ngô Văn T 07 (bẩy) tháng tù, về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao Ngô Văn H, Ngô Văn D và Ngô Văn T cho UBND xã L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phay và 01 viên gạch (Tang vật hiện ở Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Dương Văn Xuyên Nguyễn Đăng Hải | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |