- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tràng A Ký - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tràng A Kphạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH –––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2020/HS-ST Ngày: 22/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Dậu
2. Ông Hà Công Pình
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Huy Long– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.Toà án nhân dân huyện Mai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2020/HSST ngày 13/11/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2020/QĐXXST- HS ngày 09/12/2020 đối với bị cáo:
Tràng A K(tên gọi khác:Không), sinh ngày 04 tháng 01 năm 1993 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tràng A Ch, sinh năm 1971 và bà Giàng Y S ( Đã chết). Bị cáo có vợ là Sùng Y D, sinh năm 1992 và có 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Qua biên bản xác minh ngày 24/9/2020 thể hiện bị cáo thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, có biểu hiện dùng chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/9/2020 chuyển tạm giam ngày 25/9/2020. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Những người bị hại: +Anh Mùa A G, sinh năm 1999; trú tại: Bản C, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La.Vắng mặt không có lý do.
+ Anh Giàng A Ph, sinh năm 2000; trú tại: Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt không có lý do.
Những người làm chứng: +Anh Sùng A S, sinh năm 1995; Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt không có lý do.
+ Anh Trần Đình K, sinh năm 1988; Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/9/2020 Tràng A K đi bộ đến quán của anh Trần Đình K ở Xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình để chơi điện tử. Tại quán có anh Mùa A G đang chơi, Kí quan sát thấy có chìa khóa xe mô tô để trên bàn, lợi dụng sự sơ hở của anh Mùa A G, Tràng A Klấy chìa khóa ra bãi để xe, cho chìa khóa vào xe mô tô BKS 26P1 – 04186 rồi nổ máy điều khiển đi về nhà Kí. Anh Mùa A G đã trình báo công an để thu giữ xe mô tô mà Tràng A Kđã lấy trộm. Quá trình điều tra Tràng A Kkhai nhận trước đó vào ngày 07/8/2020 Tràng A Kđã lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY J6 Plus của anh Giàng A Ph và Kí đã giao nộp điện thoại tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Châu. Hiện nay cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp.
Kết luận định giá tài sản số: 37 ngày 23/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Mai Châu kết luận: 01 xe mô tô BKS 26P1-04186, nhãn hiệu YAMAHA Exiter màu sơn xanh, bạc, đen đã qua sử dung có giá trị là 28.970.000 đồng. Tại kết luận định giá tài sản số: 41 ngày 23/10/2020 kết luận: điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY J6 Plus màu xanh dương đã qua sử dụng có trị giá là 1.900.000 đồng. Tổng giá trị hai loại tài sản có giá trị là 30.870.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 70/CT-VKS- HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Tràng A Kvề tội trộm cắp tài sản theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Tràng A Ktừ 12 đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không tiếp tục xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét nghề nghiệp và điều kiện kinh tế của bị cáo thì bị cáo không có tài sản sống phụ thuộc vào gia đình, nên đề nghị không xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.
Lời khai của những người bị hại và người làm chứng đều thể hiện: Bị cáo đã lấy trộm 02 loại tài sản là chiếc điện thoại di động và xe mô tô, hiện nay các bị hại đã nhận đầy đủ tài sản và không yêu cầu đề nghị gì về phần bồi thường.
Bị cáo Tràng A Ktự bào chữa: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tràng A Kđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình tại Cơ quan điều tra phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa. Thể hiện lợi dụng sợ sơ hở của chủ sở hữu Tràng A Kđã trộm cắp tài sản có tổng trị giá là 30.870.000 đồng.
Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Tràng A Kphạm tội Trộm cắp tài sản cụ thể. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm……”
Từ đó khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố bị cáo Tràng A Klà đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân xấu thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú và có sử dụng ma túy; Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Các tình tiết này được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt bổ sung Qua điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, thể hiện bị cáo là lao động tự do sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.
Về án phí: Bị cáo Tràng A Kphải nộp án phí theo quy định tại Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tràng A Kphạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Tràng A K18 (Mười tám) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/9/2020.
3. Về án phí: Bị cáo Tràng A Kphải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm .
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình để xin xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAT; - VKSND tỉnh HB; - Trại giam CA tỉnh HB; - Phòng hồ sơ CA tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND huyện MC; - Công an huyện MC; - THA hình sự; - THA dân sự; - UBND xã P; - Bị cáo, bị hại; - Lưu HS; - Lưu cặp án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Hồng Hưng |