vanban.org

Bản án 70/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cam Thị Như Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Cam Thị Như Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cam Thị Như Q phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cam Thị Như Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2020/HS-ST
Ngày 14-5-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Tuấn

Ông Nguyễn Nhật Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoàng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại Phòng xét xử số 02, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2020/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Cam Thị Như Q, sinh ngày 01/9/1981 tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 2, ngõ 5, đường B, khối 5, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa 06/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cam Bằng T và bà Mã Thị N; chồng Nguyễn Đức H, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bản án số 27/2007/HS-ST ngày 19/4/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Cam Thị Như Q 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy nay đã được xóa án tích; không bị xử phạt hành chính, không bị kỷ luật; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt.

- Người làm chứng: Ông Ngô Việt H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 40 phút ngày 07/01/2020, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra khu nhà trọ số 28 đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Cam Thị Như Q có nhiều biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc trên người của Cam Thị Như Q có 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 4x6,5cm, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 1,5x1,8cm, bên trong có 02 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng; 04 (bốn) một túi nilon màu trắng, kích thước 1,5x1,5cm, bên trong mỗi túi có 01 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 4x6,5cm, bên trong có chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa người và tang vật về Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn để điều tra làm rõ.

Bản Kết luận giám định số: 57/KL-PC09 ngày 08/01/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nilon, kích thước 4x6,5cm là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 2,077 gam (đã trừ bì); chất tinh thể màu trắng và 02 (hai) viên nén màu hồng đựng trong 01 (một) túi nilon kích thước 1,5x1,8cm đều là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,300 gam (đã trừ bì); chất tinh thể màu trắng và 04 (bốn) viên nén màu hồng đựng trong 04 (bốn) túi nilon kích thước 1,5x1,5cm đều là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,869 gam (đã trừ bì); tổng khối lượng 3,246 gam (đã trừ bì).

Bản Cáo trạng số: 74/CT-VKSTP, ngày 15 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Cam Thị Như Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Cam Thị Như Q thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Cụ thể: Khoảng 15 giờ ngày 04 tháng 01 năm 2020, tại nhà của mình số 2, ngõ 5, đường B, khối 5, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo mua 10 viên ma túy ngựa và một ít ma túy đá với giá 1.300.000 đồng với một người đàn ông tên H quê ở tỉnh B (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), bị cáo đã sử dụng hết 02 (hai) viên ngựa và một ít ma túy đá, số còn lại bị cáo chia nhỏ cho vào các túi nilon, mục đích để bán cho những người sử dụng ma túy để kiếm lời. Khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 07 tháng 01 năm 2020, bị cáo bán cho Ngô Việt H 01 (một) viên ma túy ngựa và một ít ma túy đá với giá 150.000 đồng. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận trước đó đã bán ma túy cho một người đàn ông không rõ lai lịch trị giá 200.000 đồng, số ma túy còn lại bị công an thu giữ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Cam Thị Như Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý; xử phạt bị cáo Cam Thị Như Q từ 26 tháng đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định là chất ma túy do Nhà nước cấm lưu hành. Trả lại cho bị cáo số tiền 650.000 đồng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, điện thoại cũ đã qua sử dụng, IMEI 359271067657878 không liên quan đến việc phạm tội. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.

Người làm chứng ông Ngô Việt H tại cơ quan điều tra khai nhận: Khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 07 tháng 01 năm 2020 được mua với Cam Thị Như Q 01(một) viên ma túy ngựa và một ít ma túy đá với giá 150.000 đồng. Ngô Việt H cất dấu vào trong túi quần đang mặc nhưng khi ra ngoài cổng kiểm tra lại số ma túy vừa mua nhưng đã bị rơi mất. Ngô Việt H tìm xung quanh khu vực cổng nhà Cam Thị Như Q nhưng không tìm thấy, khi Ngô Việt H đi về được khoảng 20m thì lực lượng Công an yêu cầu về trụ sở Công an để làm việc.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Cam Thị Như Q: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình và hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng ông Ngô Việt H vắng mặt đã có lời khai ở Cơ quan điều tra. Theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn xét xử vắng mặt người này.

Lời khai nhận của bị cáo trước phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định số: 57/KL-PC09 ngày 08/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; do đó có căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ ngày 04 tháng 01 năm 2020, bị cáo mua 10 viên ma túy ngựa và một ít ma túy đá với giá 1.300.000 đồng về sử dụng cho bản thân và bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời. Khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 07 tháng 01 năm 2020, bị cáo bán cho Ngô Việt H 01 (một) viên ma túy ngựa và một ít ma túy đá với giá 150.000 đồng. Hồi 22 giờ 40 phút cùng ngày, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra khu nhà trọ số 2 đường B, khối 5, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện thu giữ trên người của bị cáo có 06 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng đựng trong các túi nilon đều là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 3,246 gam. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cam Thị Như Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, ảnh hưởng đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Chất ma túy là loại độc dược gây hại cho sức khỏe của con người. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nhanh chóng, công minh.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, Bản án số 27/2007/HS-ST ngày 19/4/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; xử phạt Cam Thị Như Q 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 15/01/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt của bản án nay đã được xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, không những vậy mà còn tạo điều kiện, lôi kéo các đối tượng nghiện chất ma túy lao sâu vào con đường tệ nạn xã hội. Hành vi mà bị cáo gây ra cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, gia đình và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ (Biên bản xác minh ngày 18/3/2020) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản, nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người đàn ông tên H là người bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý trong vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Ngô Việt H là người nghiện ma túy, được mua ma túy với bị cáo về để sử dụng cho bản thân, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ngô Việt H chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Ngô Việt H theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính Phủ. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xem xét.

Đối với người đàn ông không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, mua ma túy bị cáo số tiền 200.000 đồng, do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ của người này, không thu được ma túy nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để có căn cứ xử lý hành vi mua bán nhiều lần của bị cáo trong vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng thu giữ: Một phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định (là chất ma túy); một phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có số tiền 800.000 đồng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, cũ đã qua sử dụng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy: Đối với chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ. Đối với số tiền 650.000 đồng và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 150.000 đồng do bị cáo phạm tội bán ma túy mà có cần thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Cam Thị Như Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Cam Thị Như Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đựng mẫu vật sau giám định (chất ma túy).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 150.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Cam Thị Như Q 650.000 đồng và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, cũ đã qua sử dụng, IMEI 359271067657878.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ghi ngày 16 tháng 4 năm 2020).

4. Về án phí: Bị cáo Cam Thị Như Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ