- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản" - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2020/HS-PT Ngày 25/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và bà Bùi Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trang, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Trần Duy Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2020/TLPT-HS ngày 23 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Thị N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị N, sinh năm 1965 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Tổ dân phố 01, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tôn L và bà Lê Thị T (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Xuân T và có 04 con; bị bắt tạm giam từ ngày 07-11-2019 - Có mặt.
- Bị hại: Bà Phạm Thị Đ; địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lê Thị X; địa chỉ: Ấp 01, xã G, huyện B, tỉnh Đồng Nai - Vắng mặt.
2. Bà Bùi Thị B; địa chỉ: Thôn 05, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 21-10-2019, khi bà Phạm Thị Đ đang thu hái cà phê tại rẫy của mình tọa lạc tại thôn C, xã A, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì Nguyễn Chí T, Nguyễn Công H, Nguyễn Công M và Nguyễn Thế D đi 02 xe mô tô đến. Thấy bà Đ đã hái được 08 bao cà phê tươi tập kết tại 01 gốc cà phê trong vườn, Nguyễn Chí T gọi điện báo cho Nguyễn Thị N (mẹ vợ của T) biết. Lúc này, bà Đ gọi điện báo cho Công an xã A, huyện Đ biết. Sau đó, Công an xã A cử ông Hồ D đến hiện trường, có anh Lê Văn Tr đi cùng. Khoảng 20 phút sau, N cùng chồng là Nguyễn Xuân T đến vườn rẫy của bà Đ đe dọa dùng vũ lực đối với bà Đ. Sau đó, N chỉ đạo Nguyễn Chí T, H, M và D đem số cà phê bà Đ đã thu hái về nhà và cùng Nguyễn Chí T san 08 bao cà phê ra thành 10 bao. Bà Đ ngăn cản nhưng do phía N đông người nên không được. Khi đó ông Hồ D yêu cầu N giữ nguyên hiện trường để Công an huyện Đ đến làm việc nhưng N không chấp hành mà chỉ đạo Nguyễn Chí T, H và M khiêng cà phê lên xe chở về nhà, trong đó N trực tiếp khiêng 07 bao cà phê. Khi Nguyễn Chí T và H điều khiển 02 xe mô tô chở 05 bao cà phê qua trụ sở Ủy ban nhân dân xã A được khoảng 30m thì bị lực lượng Công an xã A chặn lại yêu cầu đưa về trụ sở làm việc; M chở 02 bao cà phê đi sau nhìn thấy đã bỏ cà phê xuống và quay lại báo cho N biết. Tuy nhiên, N vẫn tiếp tục khiêng thêm 01 bao cà phê lên xe và nói D chở đi, 02 bao cà phê còn lại đã được đưa ra ngoài phạm vi quản lý của bà Đ. Tổng trọng lượng cà phê tươi Nguyễn Thị N và Nguyễn Xuân T chiếm đoạt của bà Phạm Thị Đ là 365,9kg.
Quá trình điều tra đã thu giữ các tài liệu, đồ vật gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Galaxy SR, biển kiểm soát X; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát Y; 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển số; 10 bao loại xác rắn đựng cà phê tươi và 365,9kg cà phê tươi; 01 USB nhãn hiệu DT 101G2, bên trong lưu trữ 02 video do anh Lê Văn Tr quay.
Bản kết luận định giá tài sản số: 43/KLHDĐG ngày 22/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 365,9kg cà phê tươi có giá tại thời điểm ngày 21-10-2019 là 2.195.400 đồng, 09 bao xác rắn màu vàng, nhãn hiệu Bồ câu vàng có giá là 8.100 đồng, 01 bao xác rắn màu vàng, nhãn hiệu Mop có giá là 900 đồng; tổng giá trị tài sản là 2.204.400 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 17-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N và Nguyễn Xuân T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07-11-2019.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân T, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 30-6-2020, bị cáo Nguyễn Thị N kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận bị Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp xử phạt về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị N.
Bị cáo không bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, bị cáo đã ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, đã được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, hiện nay bị cáo đã bị tạm giam dài ngày, bản thân bị mắc nhiều bệnh nặng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để điều trị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 21-10-2019, tại rẫy của bà Phạm Thị Đ tọa lạc tại thôn C, xã A, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Thị N cùng chồng mặc dù đã được lực lượng chức năng phân tích, ngăn cản nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng bằng hành vi đe dọa dùng vũ lực và sử dụng nhiều người uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt của bà Phạm Thị Đ 365,9kg cà phê tươi đựng trong 10 bao xác rắn với tổng giá trị tài sản 2.204.000 đồng. Bản án số: 32/2020/HS-ST ngày 17-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông đã kết án bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Những nội dung bị cáo trình bày tại phiên tòa phúc thẩm đã được Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp xem xét, áp dụng đầy đủ và mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; đồng thời đảm bảo được mục đích của hình phạt. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 17-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị N.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 07-11-2019.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐKT I); - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - TAND huyện Đắk R’Lấp; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - CQ CSĐT CA huyện Đắk R’Lấp; - CQ THAHS CA huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - P. HSNVCS CA tỉnh Đắk Nông; - CQ THAHS CA tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa hình sự; Tổ hành chính tư pháp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên, đóng dấu) Lương Đức Dương |