- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2020/HNGĐ-ST Ngày 24-9-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tỉnh
Bà Trần Thị Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 221/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L; ĐKTT: Xóm M, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; cư trú tại xóm N, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H; cư trú tại Xóm M, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên t a nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Ngọc H kết hôn với nhau do tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 5 năm 2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại gia đình m đ ông Nguyễn Ngọc H ở Xóm M, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nên thường xuyên xảy ra va chạm cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình khuyên ngăn, hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả mà ngày càng căng thẳng, trầm trọng và không còn khả năng khắc phục. Do mâu thuẫn căng thẳng nên cũng từ tháng 6 năm 2015, bà Nguyễn Thị L đã b về nhà bố, m đ ở xóm N, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương sống ly thân với ông Nguyễn Ngọc H; từ đó đến nay, vợ chồng không ai quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nay bà Nguyễn Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Thị Bích N - sinh ngày 13 tháng 5 năm 2003 và Nguyễn Ngọc C - sinh ngày 01 tháng 12 năm 2004; các con chung hiện do bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn bà Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án giao các con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Ngọc H tự th a thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, ly hôn bà Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản.
ối v i bị đơn ông Nguyễn Ngọc H, trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Nguyễn Ngọc H đều vắng mặt không có lý do nên không có quan điểm của ông Nguyễn Ngọc H trước yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến khẳng định:
- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhiều lần, không có lý do nên đã không chấp hành các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự, các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H; về con chung, giao các con chung Nguyễn Thị Bích N - sinh ngày 13 tháng 5 năm 2003 và Nguyễn Ngọc C - sinh ngày 01 tháng 12 năm 2004 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về việc xét xử vắng mặt của các đương sự: Bị đơn, ông Nguyễn Ngọc H đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng nhưng ông Nguyễn Ngọc H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, ông Nguyễn Ngọc H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Ngọc H kết hôn với nhau do tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 5 năm 2002. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp; hiện tại đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Ngọc H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Ngọc H có 02 con chung là Nguyễn Thị Bích N - sinh ngày 13 tháng 5 năm 2003 và Nguyễn Ngọc C - sinh ngày 01 tháng 12 năm 2004. Ly hôn bà Nguyễn Thị L có quan điểm đề nghị Tòa án giao các con chung cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; ông Nguyễn Ngọc H vắng mặt, không có quan điểm về việc nuôi con chung. Việc nuôi con chung vừa là quyền, vừa là ngh a vụ của cha, m nên giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo các con chung được nuôi dạy và phát triển trong điều kiện tốt nhất. Xét thấy điều kiện nuôi con chung của các bên là ngang nhau, các con chung đang được bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nên để các con chung có cuộc sống ổn định và phù hợp với nguyện vọng của các con chung cần giao các con chung cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Ly hôn bà Nguyễn Thị L có quan điểm việc cấp dưỡng nuôi con sẽ do bà và ông Nguyễn Ngọc H tự th a thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét quan điểm bà Nguyễn Thị L đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận; việc cấp dưỡng nuôi con chung sẽ do các đương sự tự th a thuận, Tòa án không xem xét, giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản: Do các đương sự không có yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết. Nếu các bên đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung hoặc về tài sản, Tòa án sẽ xem xét giải quyết b ng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; các điều 143, 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ các điều 6, 7, 9 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
2. Về con chung: Giao các con chung Nguyễn Thị Bích N - sinh ngày 13 tháng 5 năm 2003 và Nguyễn Ngọc C - sinh ngày 01 tháng 12 năm 2004 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự tự th a thuận, Tòa án không xem xét giải quyết.
Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước. Bà Nguyễn Thị L đã nộp số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (theo Biên lai thu tiền số 0012676 ngày 08 tháng 7 năm 2020) nên không phải nộp nữa.
Nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện A; - Chi cục Thi hành án dân sự An Dương; - UBND xã T, huyện A; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Duy Thạch |