vanban.org

Bản án 70/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị H, cho chị Mai Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị H + Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 15-12-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Thu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hạnh; bà Trịnh Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 15/12/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 202/2020/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 30/10/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18/11/2020 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị H - Sinh năm: 1981 - Địa chỉ: Thôn Bạch Đằng (xóm 2 cũ), xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1978 - Địa chỉ: Thôn Bạch Trưng (xóm 7 cũ), xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/09/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 16/7/2006, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2007 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không còn hòa hợp, quan điểm sống của vợ chồng hoàn toàn trái ngược nhau, trong cuộc sống thường xuyên xung đột, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 02/2019 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị và anh T không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, không thể chung sống với nhau được nữa, chị yêu cầu được ly hôn anh T.

Về con: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Mai H - Sinh ngày: 24/9/2012. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 18/9/2020 và trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ngày tháng năm, cơ sở kết hôn như chị H trình bày là đúng. Trong quá trình sinh sống thì vợ chồng vẫn thuận hòa nhưng không tránh khỏi thiếu sót và cũng có lời qua tiếng lại với nhau. Anh cũng thừa nhận có việc đánh bạc và có nhiều lần hành hung, đánh chửi vợ con, lỗi phần lớn là ở anh gây nên. Nay chị H kiên quyết xin ly hôn, anh chỉ xin chị H anh tha thứ cho anh để chung sống hạnh phúc, còn nếu chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Về con: Vợ chồng anh có 01 con chung như chị H khai, anh không có ý kiến gì.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.

Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là được ly hôn với anh T, yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H, cho chị Mai Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con: Giao cháu Nguyễn Mai H - Sinh ngày: 24/9/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của chị Mai Thị H, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Mai Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Văn T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.

Ngày 18/11/2020, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh T vắng mặt không có lý do nên HĐXX quyết định hoãn phiên tòa, tại phiên tòa hôm nay anh T vẫn vắng mặt, theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt anh T.

Về hôn nhân:

Chị Mai Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 16/7/2006, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị sống hạnh phúc đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống thường xuyên xảy ra xung đột, không tìm được tiếng nói chung. Anh T cũng thừa nhận có việc anh đánh bạc và có nhiều lần hành hung, đánh chửi vợ con, lỗi phần lớn là ở anh gây nên. Chị H và anh T đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2019 cho đến nay. Nay chị H yêu cầu xin ly hôn anh T, anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh ngày 17/9/2020, đại diện thôn Bạch Trưng, xã B cho biết: Chị H và anh T sau ngày kết hôn chung sống đến khoảng năm 2007 thì xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi lẫn nhau, từ tháng 02/2019 cho đến nay chị H cùng con về bên ngoại ở và sinh sống. Như thế chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung:

Chị H và anh T có 01 con chung là Nguyễn Mai H - Sinh ngày: 24/9/2012, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, anh T không có ý kiến gì. HĐXX thấy, hiện cháu H đang ở với chị H, mặt khác cháu H cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, để tránh xáo trộn cuộc sống cũng như sinh hoạt của cháu, nên xử giao cháu H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn

Về mức cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên miễn xét.

Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị H, cho chị Mai Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con: Giao cháu Nguyễn Mai H - Sinh ngày: 24/9/2012 cho chị Mai Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Mai Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0010864 ngày 10/9/2020 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn; chị H đã nộp đủ tiền án phí DSST.

4. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. .

Cỡ chữ