vanban.org

Bản án 70/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 26/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tri P phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Tri P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tri P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tri P phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----oo0oo-----
Bản án số: 70/2019/HSST
Ngày: 26/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ron

2. Bà Trịnh Thị Xuân Hoài

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hương Giang - Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Trần Điện Ảnh - Kiểm sát viên.

.

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2019/HSST ngày 04/6/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2019/QĐXXST-HS ngày 14/6/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN TRI P, sinh năm 1968 tại TP. Quy Nhơn; Nơi cư trú: Tổ A, khu vực B, phường C, TP. Quy Nhơn, Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn N (chết); Con bà: Nguyễn Thị Kim L (chết); Vợ, con: Võ Thị T, sinh năm 1970, có 02 người con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2002; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 05/10/2018 bị Công an phường Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bị bắt tạm giam: Ngày 16/4/2019 (Theo quyết định truy nã); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Bà Hồng Thị Kim L, sinh năm 1958 “Vắng mặt”.

Nơi cư trú: Số A, đường B, phường C, quận D, TP. Hồ Chí Minh.

Tạm trú: Số A, đường B, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Đặng Văn H, sinh năm 1966 “Vắng mặt”.

Nơi cư trú: Số B, đường C, phường D, TP. Quy Nhơn, Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 26/11/2018, Nguyễn Tri P đi từ phòng 202 của nhà nghỉ “Thảo Nguyên” số 05 đường C, phường D, TP. Quy Nhơn, Bình Định xuống ngồi tại ghế nệm ở tầng trệt, lúc này P phát hiện điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng, bên trong ốp lưng điện thoại có 500.000 đồng của bà Hồng Thị Kim L (là nhân viên của nhà nghỉ) đang sạc pin tại kệ bếp nên P lén đến lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi rời khỏi nhà nghỉ. Sau đó P đem bán điện thoại cho ông Đặng Văn H - chủ tiệm điện thoại “Thanh H” (Số B, đường C, phường D, TP. Quy Nhơn, Bình Định) với giá 750.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, P về lại nhà nghỉ thì bị Công an Phường D, TP. Quy Nhơn mời về làm việc và P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Ngày 06/12/2018, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận: điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, phiên bản 16Gb màu vàng trị giá 5.500.000 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã tạm giữ: điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, số tiền 1.175.000 đồng; đã giao trả điện thoại di động và 500.000 đồng cho bà Hồng Thị Kim L; giao trả lại cho ông Đặng Văn H 675.000 đồng. Ông Đặng Văn H và bà Hồng Thị Kim L không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKSQN ngày 31/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố Nguyễn Tri P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Tri P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tri P về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Tri P từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về phần dân sự: Ông Đặng Văn H và bà Hồng Thị Kim L không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 26/11/2018, tại nhà nghỉ “Thảo Nguyên” (số 05 đường C, phường D, TP. Quy Nhơn), bị cáo Nguyễn Tri P lợi dụng bà Hồng Thị Kim L là nhân viên lễ tân của nhà nghỉ sơ hở trong việc quản lý tài sản, đã lén lút chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, bên trong ốp lưng điện thoại có 500.000 đồng của bà Hồng Thị Kim L, rồi đem bán điện thoại lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Bị cáo Nguyễn Tri P có đầy đủ sức khỏe năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo đã bị Công an phường D, TP. Quy Nhơn xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên phải biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do tham lam, xem thường pháp luật, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, bên trong ốp lưng điện thoại có 500.000 đồng của bà Hồng Thị Kim L, tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 6.000.000 đồng (điện thoại trị giá 5.500.000 đồng và 500.000 đồng bên trong ốp lưng điện thoại). Do đó, bị cáo Nguyễn Tri P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi do bị cáo Nguyễn Tri P gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, trong quá trình điều tra, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên cũng xem xét: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo.

Về bồi thường thiệt hại:

- Bị hại Hồng Thị Kim L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết

- Ông Đặng Văn H mua điện thoại của bị cáo trộm cắp của bà L với số tiền 750.000 đồng, điện thoại đã được thu hồi trả lại cho bị hại, ông H đã nhận lại số tiền 675.000 đồng, còn lại 75.000 đồng ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác: Ông Đặng Văn H có hành vi mua điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus của bị cáo P đem bán, nhưng ông H không biết điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn không xử lý hình sự đối với ông H là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tri P phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Tri P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2019.

2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Tri P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ