- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án sè: 70/2019/HSST Ngµy: 11/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Duy Cừ
- Bà Võ Thị Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tôn Đức Phong, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2019/TLST-HS, ngày 27 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2019/QĐXXST-HS ngày 30/9/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình L, sinh ngày: 05/4/1982; Nơi sinh: huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình D; Con bà: Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: có 02, Ngày 15/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Thi hành án tại trại giam Bình Điền đến ngày 27/5/2017 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 08/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Thi hành án tại trại giam Bình Điền đến ngày 05/3/2019 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Chị Đặng Thị Thúy N, sinh năm 1981; Nghề nghiệp: nhân viên kho bạc nhà nước huyện T; Địa chỉ: Tổ 9, phường T, thành phố Hà Tĩnh (vắng mặt).
Anh Phan Công Đ, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Bộ đội; Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
Chị Lê Thị Quỳnh T; sinh năm: 1999; Nghề nghiệp: Sinh viên; Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
* Người làm chứng: Anh Lê Đình Đ; sinh năm: 1991; Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 11/7/2019, tại xóm Đ, xã T, thành phố Hà Tĩnh, Nguyễn Đình L đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Đêm ngày 10/7/2019, Nguyễn Đình L điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Nijia màu xám, đi lòng vòng trên các tuyến đường thuộc xã T, thành phố Hà Tĩnh với mục đích tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/7/2019, khi L đi qua nhà ông Lê Đình H tại xóm Đ, xã T, thành phố Hà Tĩnh thấy cửa chính nhà không khóa nên đã trèo tường rào vào bên trong, đi vào phòng ngủ của chị Lê Thị Quỳnh T con gái ông H, lấy một chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Insprion Model 143476 màu đen đem ra cất giấu ở ngoài cổng. Sau đó, L tiếp tục quay lại phòng ngủ chị T thì phát hiện có một chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám trắng đang xạc pin để trên đầu giường ngủ nên lấy trộm bỏ vào túi quần rồi đi ra khỏi phòng. Vừa lúc này chị T tỉnh dậy nhìn thấy L nên hô hoán. L trèo qua hàng rào bỏ lại chiếc xe đạp điện và chiếc máy tính xách tay vừa lấy trộm được rồi chạy bộ tẩu thoát.
Theo kết luận định giá tài sản số 44/KLĐG ngày 11/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Hà Tĩnh: 01 máy tính xách tay loại Dell Insprion Model 143476 màu đen trị giá 5.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám trắng trị giá 2.500.000 đồng.
Lần thứ hai: Sau khi trộm cắp tài sản ở nhà chị Lê Thị Quỳnh T bị phát hiện, Nguyễn Đình L bỏ chạy dọc trên tuyến đường trong xóm Đ, xã T, thành phố Hà Tĩnh. Khi thấy không có ai truy đuổi thì L tiếp tục tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 11/7/2019, khi đi qua nhà anh Phan Công Đ quan sát thấy cửa chính không khóa nên L trèo hàng rào vào trong nhà. L đi vào phòng ngủ thì thấy anh Đ và con đang nằm ngủ, phía đầu giường có một chiếc điện thoại di động OPPO A51W màu đen đang cắm xạc nên L lấy trộm bỏ vào túi quần. Sau đó L đi đến chỗ móc treo quần áo thò tay vào túi xách và lấy trộm số tiền 100.000 đồng cùng 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV của anh Đ. Sau đó L trèo hàng rào ra ngoài tẩu thoát. Lúc này anh Đ phát hiện bị mất trộm nên truy đuổi và phối hợp cùng Công an xã T, thành phố Hà Tĩnh bắt quả tang Nguyễn Đình L, thu giữ cùng tang vật.
Theo kết luận định giá tài sản số 44/KLĐG ngày 11/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Hà Tĩnh: 01 điện thoại di động OPPO loại A51W màu đen trị giá 2.000.000 đồng.
Ngoài ra, khoảng 22 giờ ngày 08/7/2019, Nguyễn Đình L đi bộ qua số nhà 26, ngõ 148 đường V, thuộc phường T, thành phố Hà Tĩnh thì thấy cửa cổng không khóa và có 01 chiếc xe đạp điện hiệu Nijia màu xám của chị Đặng Thị Thúy N đang để trước sân mà không có ai trông coi nên L nảy sinh ý định trộm cắp. L đi vào trong sân, thấy chiếc xe đạp điện có chìa khóa cắm sẵn ở ổ khóa nên L mở khóa lấy trộm chiếc xe đạp điện trên và sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản vào ngày 11/7/2019.
Theo kết luận định giá tài sản số 44/KLĐG ngày 11/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Hà Tĩnh: 01 xe đạp điện loại Nijia, màu xám có trị giá 1.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 67/CT-VKSTPHT ngày 27/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2019.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình L hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa anh Phan Công Đ khai: vào ngày 11/7/2019, anh bị mất trộm một chiếc điện thoại di động OPPO A51W màu đen, số tiền 100.000 đồng cùng 01 thẻ ATM ngân hàng BIDV. Hiện anh Đ đã được nhận lại số tài sản trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra chị Đặng Thị Thúy N, chị Lê Thị Quỳnh T đều thừa nhận gia đình mình bị mất trộm tài sản, hiện nay đã được nhận lại đầy đủ số tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên và cơ quan Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
. Về chứng cứ xác định tội danh:
Tại phiên tòa, Nguyễn Đình L khai nhận: ngày 11/7/2019, tại xóm Đ, xã T, thành phố Hà Tĩnh, Nguyễn Đình L đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán tiêu xài cá nhân, cụ thể là: lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Insprion màu đen, trị giá 5.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám trắng, trị giá 2.500.000 đồng của chị Lê Thị Quỳnh T; lấy 01 điện thoại di động OPPO A51W màu đen trị giá 2.000.000 đồng và số tiền 100.000 đồng của anh Phan Công Đ. Ngoài ra, ngày 08/7/2019, Nguyễn Đình L còn có hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe đạp điện Nijia, màu xám trị giá 1.500.000 đồng của chị Đặng Thị Thúy N. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 11.100.000 đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo là lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bí mật, lén lút chiếm đoạt tài sản. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 11.100.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội Nguyễn Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý lần phạm tội này của bị cáo là “tái phạm nguy hiểm”. Đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Nguyễn Đình L “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Đình L nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, ra tù được một thời gian ngắn lại liên tục phạm tội. Qua đó, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo cần lên một mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đảm bảo việc răn đe và giáo dục đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử Quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Đình L là thỏa đáng.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phan Công Đ, chị Lê Thị Quỳnh T và chị Đặng Thị Thúy N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phan Công Đ 01 điện thoại di động OPPO A51W màu đen, số tiền 100.000 đồng và 01 thẻ ngân hàng BIDV; trả lại cho chị Đặng Thị Thúy N 01 xe đạp điện loại Nijia, màu xám; trả lại cho chị Lê Thị Quỳnh T 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám trắng và 01 máy tính xách tay loại Dell Insprion Model 143476 màu đen là đúng quy định pháp luật.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự,
Tuyên bố: Nguyễn Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Đình L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam ngày 11/7/2019.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND TP Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - CQ ĐT CATP Hà Tĩnh; - T.H.A.P.T; -Trại tạm giam CA Hà Tĩnh; - CQTHADS T.P Hà Tĩnh; - Bị cáo; Người bị hại; - Lưu: HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Dũng |