- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh L - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2019/HS-ST Ngày: 26-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Ảnh
Bà Nguyễn Thúy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 78/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh L, sinh năm 1990 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố Phú M, phường Xuân L, thành phố Long K, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th (chết) và bà Tạ Thị Kim P (1965); có vợ Nguyễn Thị Thanh L (1992) và 01 con sinh năm 2018; bị cáo là con út trong gia đình có hai chị em; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2019 cho đến nay. (Có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Chí H
sinh năm 1994
(Có mặt)
Địa chỉ: Khu phố Bàu S, phường Bàu S, thành phố Long K, tỉnh Đồng Nai.
- Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Nguyễn Thanh H1
sinh năm 1970
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố Trung T, phường Xuân L, thành phố Long K, tỉnh Đồng Nai.
2. Ông Lê Kiều Tr
sinh năm 1974
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố Trung T, phường Xuân L, thành phố Long K, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do Mai Văn T và Nguyễn Chí H có mâu thuẫn với nhau từ trước nên vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/9/2018, T nhờ Nguyễn Thanh L chở T đến tiệm nhôm kính “Hùng Vũ” tại Khu phố Trung T, phường Xuân L, thành phố Long K để tìm H. Khi đến ngã ba đường trước tiệm nhôm kính “Hùng Vũ”, T nói L dừng xe và đứng ngoài chờ. Lúc này, H đang ngồi cắt nhôm kính thì T đi vào cổng chính của tiệm và rút từ trong người ra 01 (một) con dao dài khoảng 50cm xông vào chém 01 (một) nhát vào cùi chỏ tay trái, 01 (một) nhát vào giữa cẳng tay trái của H, H bỏ chạy ra phía sau nhà lấy 01 (một) tấm mặt nạ che mắt và ra ngoài đường gần cổng phụ của tiệm thách thức T. Sau đó, T bỏ dao còn H bỏ tấm mặt nạ xuống đất rồi xông vào đánh nhau bằng tay.
Khi thấy T và H đang đánh nhau thì L chạy đến kéo H ra, đồng thời nhặt con dao mà T vứt xuống đường, dùng cán dao đánh vào lưng H khoảng 02 (hai) đến 03 (ba) cái và kéo T về. Sau đó, T cầm dao lên xe L tẩu thoát. H được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa cao su Đồng Nai. Hậu quả: H bị một vết thương ở phần mềm vùng trán dài khoảng 02cm, sâu khoảng 0,6cm; một vết thương ở phần mềm cẳng tay trái dài khoảng 04cm, sâu khoảng 01cm; một vết thương phần mềm vùng khuỷu trái hình vòng cung dài khoảng 07cm, sâu khoảng 01cm; gãy lồi cầu trong cánh tay trái; gãy có mảnh xương ở bờ dưới gần mỏm khuỷu trái; gãy 1/3 dưới xương trụ cẳng tay trái, đa vết thương do bị chém.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh L và những người tham gia tố tụng trong vụ án đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng mô tả. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo L không thừa nhận đã dùng cán dao đánh vào lưng của bị hại và bị hại cũng không xác định được bị cáo đã dùng tay hay dùng cán dao đánh bị hại (do bị cáo đánh bị hại từ phía sau); nhưng hai người làm chứng là Nguyễn Thanh H1 và Lê Kiều Tr đều xác định chính mắt trông thấy bị cáo L đã dùng cán dao đánh vào lưng của anh H.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0855/TgT/2018 ngày 12/11/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận: Căn cứ vào Bảng 1 tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của Thông tư số: 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế thì dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo trán trái kích thước 1,5x0,2cm, nằm ngoài chân tóc, sẹo đổi màu, xơ dính, xấu về thẩm mỹ (Áp dụng Chương 9, điều II, mục I). Tỷ lệ: 06%.
- Tổn thương gãy lồi cầu trong xương cánh tay trái, không ảnh hưởng chức năng (Áp dụng Chương 8, điều I, mục 8.3). Tỷ lệ: 05%.
- Tổn thương gãy vát mỏm khuỷu trái, không ảnh hưởng chức năng vận động khớp khuỷu trái (Áp dụng Chương 8, điều II, mục 3.1). Tỷ lệ: 06%.
- Tổn thương nứt 1/3 dưới xương trụ trái, không ảnh hưởng chức năng vận động cẳng tay trái (Áp dụng Chương 8, điều I, mục 8.4). Tỷ lệ: 01%.
- Sẹo khuỷu tay trái kích thước 10x0,3cm và sẹo cẳng tay trái kích thước 2,5x0,2cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 03%.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Chí H là 19%. Vật gây thương tích là vật sắc.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 63/CT-VKSLK ngày 16/7/2019 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù giam.
Đối với Mai Văn T, hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh đã ra quyết định truy nã khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, do Mai Văn T đã cầm theo khi tẩu thoát nên không thu giữ được.
Đối với xe mô tô bị cáo L chở T đi đánh nhau với anh H, bị cáo L khai xe của T, hiện không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và bị hại cũng không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Ý kiến của bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/9/2018, tại tiệm nhôm kính “Hùng Vũ” do ông Nguyễn Thanh H1 làm chủ, thuộc Khu phố Trung T, phường Xuân L, thành phố Long K, tỉnh Đồng Nai do có mâu thuẫn từ trước và được sự giúp sức của Nguyễn Thanh L, Mai Văn T đã dùng 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 50cm chém anh Nguyễn Chí H, L dùng cán dao đánh vào lưng anh H 02 (hai) đến 03 (ba) cái. Hậu quả, anh H bị thương tích với tỷ lệ là 19%. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Mặc dù bị cáo L không biết T và H có mâu thuẫn với nhau và cũng không biết T cầm dao đi đánh H nhưng bị cáo vẫn chở T đi tìm H. Khi T và H đánh nhau thì bị cáo đã không can ngăn mà còn “bênh vực” T đánh H rồi còn giúp T tẩu thoát. Như vậy, L đã thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn (thứ yếu). Mặc dù trong Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0855/TgT/2018 ngày 12/11/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận về L sàng “Lưng: Không ghi nhận tổn thương” nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác, tổn hại sức khỏe của bị hại, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương nên vẫn cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
4 Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo cung cấp tài liệu xác định bà ngoại Nguyễn Thị Huệ là người có công với cách mạng, được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Tại phiên tòa, bị hại cũng bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
5 Về quyết định hình phạt: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú ổn định rõ ràng và là lao động chính trong gia đình. Tại phiên tòa, bị cáo đã thật sự hối hận về hành vi của mình gây ra nên xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách phù hợp, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách là đảm bảo được mục đích, tính chất của hình phạt.
Trong vụ án này, Mai Văn T là người chủ động thực hiện hành vi phạm tội với vai trò tích cực nhưng hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh đã ra quyết định truy nã khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
6 Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 50cm là hung khí Mai Văn T sử dụng nhưng sau khi gây án T đã cầm theo khi tẩu thoát. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh đã truy tìm nhưng không thấy nên không xem xét.
Đối với xe mô tô bị cáo L chở T đi đánh nhau với anh H, bị cáo L khai xe của T, hiện không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xét.
7 Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo L đã bồi thường cho anh H số tiền là 1.000.000đ (Một triệu đồng), anh H không thắc mắc hay yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
8 Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh và điều khoản truy tố là có căn cứ và phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được chấp nhận. Tuy nhiên, việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt tù giam là chưa phù hợp.
9 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
10 Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án:
Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Xuân Lập, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí:
- Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án:
Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND TP.LK; - CCTHADS TP.LK; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thùy Trang |