vanban.org

Bản án 70/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Trần Nhí E 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28-6-2018. Xử phạt bị cáo Trần Duy H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28-6-2018.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2018/HS-ST
Ngày 27 – 7 – 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2018/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất: Trần Nhí E – sinh ngày 01-01-2000; tên gọi khác: Nam (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm X, thị trấn S, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông Trần Văn N (chết) và bà Trần Thị H; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; Bị khởi tố và bắt tạm giữ ngày 28-6-2018 sau đó chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo thứ hai: Trần Duy H – sinh năm 1999 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp TT, xã PL, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: ấp ĐC, xã PL, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Trung T và bà Dương Thị Ư; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; Bị khởi tố và bắt tạm giữ ngày 28-6-2018 sau đó chuyển tạm giam đến nay.

Người bị hại: Ông Trần Trung T – sinh năm 1966 (có mặt)

Trú tại: Ấp ĐC, xã PL, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28 tháng 6 năm 2018, Trần Nhí E rủ Trần Duy H về nhà ông Trần Trung T là cha ruột của H ở ấp ĐC, xã PL, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau lấy trộm xe mô tô hiệu ESPERO biển kiểm soát 39AM-02101 của Dương Văn Đ gửi tại nhà ông T để bán lấy tiền chi xài, H đồng ý. Nhí E và H leo lên vách vào trong nhà lấy trộm được chiếc xe và mở cửa dẫn ra khỏi nhà. H cắt dây max của xe điều khiển xe chở Nhí chạy về hướng Kinh Ba khoản 02km, bị ông T phát hiện rượt đuổi bắt giữ Nhí E và H cùng xe đưa về nhà rồi trình báo công an lập biên bản phạm tội quả tang.

Bản kết luận định giá số 38/BBKL ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Hội đồng định giá thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời kết luận: 01 xe mô tô hiệu ESPERO biển kiểm soát 39AM-02101 trị giá 10.290.000 đồng. Xe này đã trả lại cho anh Đ xong.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 72/QĐ- VKS ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố Trần Nhí E và Trần Duy H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời giữ nguyên quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đối với các bị cáo và đề nghị Chủ tọa phiên tòa áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H, mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận tại toàn bộ tài sản bị mất trộm, không yêu cầu gì nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng sắt cán bộc nhựa màu xanh, 01 đoạn dây chì 15cm và 01 đoạn dây chì 27cm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Chủ tọa phiên tòa nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trần Văn Thời, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28-6-2018 các bị cáo Em và H có hành vi lén lút thực hiện lấy trộm 01 xe mô tô hiệu ESPERO biển kiểm soát 39AM-02101 của anh Dương Văn Đ gửi tại nhà của ông Trần Trung T tại ấp ĐC, xã PL, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Theo kết luận định giá xe mô tô trị giá 10.290.000 đồng.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó các bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng.

Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo Nhí E và H là người có đủ nhận thức, biết rõ lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và bị xử lý nhưng do bản chất chai lười lao động, muốn có tiền chi xài cá nhân nên các bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này các bị cáo Nhí E và H phạm tội trong trường hợp giản đơn, không có sự phân công vai trò, bàn bạc với nhau. Bị cáo Em là người đề xướng, rủ rê bị cáo H phạm tội. Tuy nhiên, điều đáng nói bị cáo Huỳnh thực hiện hành vi trộm tài sản ngay tại nhà cha ruột của mình. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả cho bị hại xong. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, q khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt đã trả cho anh Dương Văn Đệ xong và người bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 cây kéo bằng sắt cán bộc nhựa màu xanh, 01 đoạn dây chì 15cm và 01 đoạn dây chì 27cm. Xét những vật chứng này không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Nhí E 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28-6-2018.

Xử phạt bị cáo Trần Duy H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28-6-2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng sắt cán bộc nhựa màu xanh, 01 đoạn dây chì 15cm và 01 đoạn dây chì 27cm. (Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12-7-2018).

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Trần Nhí E và Trần Duy H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ