- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nông Quang Đ và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2018/HS-ST Ngày 30-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Triệu Thanh Thủy
Ông Nguyễn Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhưỡng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2018/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Nông Quang Đ, sinh ngày 10/7/1985 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa 12/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn C và bà Lâm Thị T; vợ: Hoàng Thị L (đã ly hôn), con: Có 01 con, sinh năm 2010; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án, Bản án số: 38/2012/HS-ST ngày 06/9/2012 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 08 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 08/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù; nhân thân: Không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 06/9/2018 chuyển sang tạm giam từ ngày 09/9/2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay, có mặt.
2. Lê Anh T, sinh ngày 31/01/1978 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu X, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa 12/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P (đã chết) và bà Hà Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 119/2012/HSST ngày 22/8/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã xử phạt Lê Anh T 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa), không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 06/9/2018 chuyển sang tạm giam từ ngày 09/9/2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay, có mặt.
3. Hoàng Văn S, sinh ngày 05/11/1997 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa 6/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C và bà Lành Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 06/9/2018 chuyển sang tạm giam từ ngày 09/9/2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay, có mặt.
4. Nông Văn T, sinh ngày 24/5/1997 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa 9/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn C1 và bà Vương Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 05/9/2018 chuyển sang tạm giam từ ngày 08/9/2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay, có mặt.
5. Vương Hùng T, sinh ngày 27/5/1998 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa 10/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn T và bà Hoàng Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, không bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 06/9/2018 chuyển sang tạm giam từ ngày 09/9/2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1979, nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Phương Văn Đ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/9/2018, Nông Quang Đ gọi điện thoại đặt vấn đề rủ Lê Anh T ra thành phố L để mua ma túy heroine, Lê Anh T đồng ý. Sau đó, Nông Quang Đ cùng Lê Anh T đón xe khách ra thành phố L đến một quán nước tại chợ B thuộc thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Tại đây Nông Quang Đ đưa cho Lê Anh T 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để đi mua ma túy heroine. Sau đó, Lê Anh T một mình đi bộ theo hướng ra chợ B cách chỗ Nông Quang Đ ngồi đợi khoảng 100 mét mua một gói ma túy heroine giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) với một người nam giới khoảng ngoài 40 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ. Sau khi mua được ma túy heroine, Lê Anh T quay lại chỗ Nông Quang Đ và đưa cho Nông Quang Đ gói ma túy heroine vừa mua được, rồi Nông Quang Đ cùng với Lê Anh T đi đến ga L xẻ một ít ma túy heroine từ gói ma túy vừa mua được ra cùng nhau sử dụng. Sử dụng xong, Nông Quang Đ gói phần ma túy còn lại và cầm ở tay rồi cùng Lê Anh T ra đón xe khách để về nhà. Về đến thị trấn N, Lê Anh T và Nông Quang Đ khác về nhà của mỗi người. Đến nhà, Nông Quang Đ lấy gói ma túy heroine mua được tại thành phố L chia nhỏ ra thành 03 (ba) gói ma túy heroine được gói ngoài bằng giấy rồi cất vào túi quần. Khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, Phương Văn Đ gọi điện thoại cho Nông Quang Đ hỏi mua ma túy heroine về sử dụng. Nông Quang Đ đồng ý và hẹn Phương Văn Đ ra khu vực Bưu điện D thuộc khu Y, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để mua bán ma túy. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Nông Quang Đ lấy 01 (một) gói ma túy heroine gói bằng giấy được cất ở túi quần ra bán cho Phương Văn Đ với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để sử dụng. Sau đó, Nông Quang Đ đi về nhà và lấy 02 (hai) gói ma túy heroine còn lại cất ở túi quần ra sử dụng hết một mình.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/9/2018, Nông Quang Đ lại tiếp tục gọi điện thoại rủ Lê Anh T ra thành phố L để mua ma túy heroine, Lê Anh T đồng ý. Sau đó, Nông Quang Đ cùng Lê Anh T đón xe khách ra thành phố L. Trên đường ra thành phố L, Nông Quang Đ nói với Lê Anh T về việc mua ma túy về để bán lại kiếm lời. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nông Quang Đ và Lê Anh T đến khu vực Bưu điện L, tại đây Nông Quang Đ đưa cho Lê Anh T 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng) để đi mua ma túy heroine về bán. Lê Anh T cầm tiền và bảo Nông Quang Đ đợi. Sau đó Lê Anh T một mình đi ra chợ B tiếp tục mua một gói ma túy heroine giá 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng) với người nam giới đã bán ma túy heroine cho Lê Anh T vào ngày 04/9/2018. Mua được ma túy, Lê Anh T quay lại chỗ Nông Quang Đ và đưa cho Nông Quang Đ gói ma túy heroine vừa mua được, rồi Nông Quang Đ cùng với Lê Anh T đi đến ga L xẻ một ít ma túy heroine từ gói ma túy vừa mua được ra cùng nhau sử dụng. Sau đó, Nông Quang Đ gói phần ma túy còn lại vào và cầm ở tay rồi cùng Lê Anh T ra đón xe khách để về nhà. Về đến thị trấn N, Lê Anh T về nhà của Lê Anh T, Nông Quang Đ về nhà của Nông Quang Đ. Về đến nhà, Nông Quang Đ lấy gói ma túy heroine vừa mua được chia ra thành 16 (mười sáu) gói ma túy heroine gói bằng giấy và 02 (hai) gói ma túy heroine gói bằng nilon rồi Nông Quang Đ cất toàn bộ số ma túy vừa chia vào túi quần đang mặc.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/9/2018, tại quán nước gần Hạt K huyện L thuộc khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, do nghiện ma túy, Nông Văn T đã rủ Hoàng Văn S tìm chỗ mua ma túy heroine về để sử dụng. Sau đó, Hoàng Văn S đã lấy điện thoại của Nông Văn T liên lạc với Nông Quang Đ để mua ma túy. Nông Quang Đ đồng ý và hẹn Hoàng Văn S đến khu vực bãi thải Công ty Than D để mua bán ma túy. Sau đó Nông Văn T điều khiển xe mô tô BKS 12L1 – 049.55 chở Hoàng Văn S ngồi phía sau đi theo hướng vào thị trấn N. Trên đường đi, Nông Văn T đưa cho Hoàng Văn S 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) để mua ma túy. Khi đến khu vực gần Cầu Đ thuộc khu C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Hoàng Văn S xuống xe và bảo Nông Văn T đợi để mình đi mua ma túy. Sau đó, Hoàng Văn S đi bộ theo hướng lên bãi thải Công ty Than D thì gặp Vương Hùng T, rồi Hoàng Văn S đưa 400.000 đồng cho Vương Hùng T để nhờ Vương Hùng T đi mua ma túy với Nông Quang Đ. Vương Hùng T đồng ý rồi điều khiển xe máy chở Hoàng Văn S ngồi phía sau đi được một đoạn thì Hoàng Văn S xuống xe, Vương Hùng T lấy điện thoại ra gọi điện cho Nông Quang Đ để hỏi mua ma túy. Nông Quang Đ đồng ý và hẹn Vương Hùng T đến bãi thải Công ty Than D để mua bán ma túy. Sau đó, Vương Hùng T tiếp tục điều khiển xe máy đến bãi thải Công ty Than D. Đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, tại bãi thải của Công ty Than D thuộc khu C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Nông Quang Đ lấy 02 (hai) gói ma túy heroine gói bằng giấy cất ở túi quần ra bán cho Vương Hùng T với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, Vương Hùng T quay lại và đưa toàn bộ số ma túy heroine cho Hoàng Văn S. Hoàng Văn S cầm và lấy 01 (một) gói ma túy heroine ra rồi xẻ lấy một ít ma túy heroine để cùng Vương Hùng T sử dụng. Sau đó, Hoàng Văn S cất 02 (hai) gói ma túy heroine vào túi quần và quay lại chỗ của Nông Văn T đang đợi, rồi Nông Văn T điều khiển xe mô tô BKS 12L1 – 049.55 chở Hoàng Văn S cầm số ma túy ngồi phía sau đi theo hướng ra thị trấn L. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nông Văn T và Hoàng Văn S đi đến khu N phố Z, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Lộc Bình bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 320/KL-PC09 ngày 07/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:
- Chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói giấy thu của Hoàng Văn S gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,104 gam (đã trừ bì).
- Chất bột màu trắng có trong 12 (mười hai) gói giấy và 02 (hai) túi nilon thu của Nông Quang Đ gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,367 gam (đã trừ bì). (BL 123)
Bản cáo trạng số: 67/CT-VKSLB, ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Nông Quang Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Lê Anh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố các bị cáo Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà các bị cáo Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T, Nông Quang Đ và Lê Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Cụ thể của bị cáo khai nhận: Ngày 04/9/2018, Nông Quang Đ và Lê Anh T đã cùng nhau ra thành phố L mua ma túy heroine. Mua được ma túy, Nông Quang Đ và Lê Anh T đã xẻ một ít ra để cùng nhau sử dụng. Sau đó, Nông Quang Đ chia số ma túy mua được thành các gói nhỏ bọc bằng giấy. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/9/2018, tại khu vực Bưu điện D thuộc khu Y, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Nông Quang Đ đã bán 01 một gói ma túy heroine cho Phương Văn Đ với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để Phương Văn Đ sử dụng. Số còn lại, Nông Quang Đ tự sử dụng hết một mình. Ngày 05/9/2018, Nông Quang Đ và Lê Anh T lại tiếp tục ra thành phố L mua ma túy heroine. Trên đường đi, Nông Quang Đ nói với Lê Anh T là đi mua ma túy về để bán lại kiếm lời. Sau đó, Nông Quang Đ đưa tiền cho Lê Anh T để Lê Anh T đi mua ma túy hộ. Mua được ma túy, Nông Quang Đ và Lê Anh T lại xẻ một ít ma túy ra để cùng nhau sử dụng. Sau đó, Nông Quang Đ chia gói ma túy heroine thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán lại kiếm lời. Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 05/9/2018, tại bãi thải của Công ty Than D thuộc khu C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Nông Quang Đ lấy 02 (hai) gói ma túy heroine gói bằng giấy cất ở túi quần ra bán cho Vương Hùng T với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Số ma túy còn lại, Nông Quang Đ cất ở trong túi quần cho đến khi bị bắt, thu giữ với tổng khối lượng là 1,367 gam heroine. Trước đó, 16 giờ 30 phút ngày 05/9/2018, do nghiện ma túy, Hoàng Văn S và Nông Văn T đã rủ nhau vào thị trấn N, huyện L để mua ma túy với Nông Quang Đ về sử dụng. Trên đường đi, Hoàng Văn S gặp Vương Hùng T nên đã đưa tiền nhờ Vương Hùng T đi mua hộ ma túy với Nông Quang Đ. Sau khi Vương Hùng T mua được ma túy với Nông Quang Đ với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), Vương Hùng T và Hoàng Văn S đã đem ra sử dụng một ít. Sau đó, Hoàng Văn S cầm số ma túy còn lại cùng Nông Văn T trên đường về thì bị Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang thu giữ 0,104 gam heroine.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Văn T khai nhận: Ngày 02/9/2018 anh Hoàng Văn T cho con trai là Hoàng Văn T1 mượn xe đi chơi xe mô tô BKS 12L1-049.55, nhãn hiệu HONDA, màu đen-xám-vàng, tối Hoàng Văn T1 đi chơi về có nói việc Hoàng Văn T1 cho Nông Văn T mượn xe mô tô, anh không biết việc các bị cáo dùng xe mô tô để mua bán ma túy, nay anh xin lại xe.
Người làm chứng anh Phương Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, qua lời khai nhận tại quan điều tra: Bản thân là người nghiện ma túy nên ngày 04/9/2018 đã mua của Nông Quang Đ 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng về sử dụng cho bản thân, anh không có yêu cầu và đề nghị gì.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo Nông Quang Đ, Lê Anh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đề nghị Hội đồng xét tuyên bố bị cáo Nông Quang Đ, Lê Anh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo Nông Quang Đ từ 08 đến 09 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 30 đến 36 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 16 đến 18 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo Hoàng Văn S từ 14 đến 16 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo Vương Hùng T từ 14 đến 16 tháng tù.
Về xử lý vật Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư ghi "Vật chứng thu giữ của Hoàng Văn S, sinh năm 1997, nơi cư trú thôn Q, xã T, huyện L, Lạng Sơn" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có tổng cộng 0,086 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói; 01 (một) phong bì thư ghi "Vật chứng thu giữ của Nông Quang Đ, sinh 1985, nơi cư trú khu C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có tổng cộng 0,976 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói; trả lại cho anh Hoàng Văn T: 01 (một) xe mô tô BKS 12L1-049.55, nhãn hiệu HONDA, màu đen-xám-vàng, đã cũ qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong; Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nông Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng - hồng, có số IMEI1: 864239031958910, IMEI1: 864239031958902, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng màn hình bị vỡ, máy cũ, đã qua sử dụng; Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Vương Hùng T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu đen, có số IMEI1: 865257039041751, IMEI1: 865257039041744, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng màn hình bị vỡ, máy cũ, đã qua sử dụng; Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nông Quang Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng - hồng, không kiểm tra được số IMEI do màn hình bị khóa không mở được bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng; Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Lê Anh T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng, có số IMEI: 013533003142960, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối các bị cáo vì các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản gì.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, truy thu của bị cáo Nông Quang Đ số tiền 600.000 đồng do bán ma túy mà có.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Người làm chứng anh Phương Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ đã có lời khai đầy đủ. Xét thấy, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo trước phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ xác định: Ngày 04/9/2018, Nông Quang Đ đã bán 01 một gói ma túy heroine cho Phương Văn Đ với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để Phương Văn Đ sử dụng. Ngày 05/9/2018, Nông Quang Đ nói với Lê Anh T về việc mua ma túy về bán và đưa cho Lê Anh T 1.900.000 đồng để mua hộ ma túy về bán kiếm lời, sau khi mua được ma túy Nông Quang Đ tiếp tục bán 02 (hai) gói ma túy heroine cho Vương Hùng T với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Trước đó, 16 giờ 30 phút ngày 05/9/2018, do nghiện ma túy, Hoàng Văn S và Nông Văn T đã rủ nhau vào thị trấn N, huyện L để mua ma túy với Nông Quang Đ về sử dụng. Trên đường đi, Hoàng Văn S gặp Vương Hùng T nên đã đưa tiền nhờ Vương Hùng T đi mua hộ ma túy với Nông Quang Đ. Sau khi Vương Hùng T mua được ma túy với Nông Quang Đ với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), Vương Hùng T và Hoàng Văn S đã đem ra sử dụng một ít. Sau đó, Hoàng Văn S cầm số ma túy còn lại cùng Nông Văn T trên đường về thì bị Công an huyện Lộc Bình bắt quả tang thu giữ 0,104 gam heroine. Tại bản Kết luận giám định số 320/KL-PC09 ngày 07/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói giấy thu của Hoàng Văn S gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,104 gam (đã trừ bì); chất bột màu trắng có trong 12 (mười hai) gói giấy và 02 (hai) túi nilon thu của Nông Quang Đ gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,367 gam (đã trừ bì). Tại Bản án số: 38/2012/HS-ST ngày 06/9/2012 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Nông Quang Đ 08 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 08/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nông Quang Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Lê Anh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố các bị cáo Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì ma túy là chất gây nghiện cao, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, gây thiệt hại về kinh tế. Ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn trong xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy và quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đối với bị cáo Nông Quang Đ: Tiền án: Bản án số: 38/2012/HS-ST ngày 06/9/2012 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 08 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 08/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng đây là tình tiết định tội với bị cáo nên không xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tiền sự, chưa bị xử lý hành chính. Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đối với bị cáo Lê Anh T: Tại Bản án số 119/2012/HSST ngày 22/8/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã xử phạt Lê Anh T 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa), nhưng bị cáo bị coi là có nhân thân xấu. Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, chưa có án tích, chưa bị xử lý hành chính. Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đối với bị cáo Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T: Các bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, chưa có án tích, chưa bị xử lý hành chính. Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Để giáo dục các bị cáo Nông Quang Đ, Lê Anh T, Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T trở thành người có ích cho gia đình và xã hội cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, giữ được sự nghiêm minh của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo. Đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra nên Tòa án chấp nhận.
Đối với Phương Văn Đ là người đã mua ma túy của Nông Quang Đ để sử dụng, bản thân là người nghiện ma túy không đủ căn cứ để xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vi phạm của các đối tượng về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của đối tượng ở xã M, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để áp dụng diện quản lý tại xã, phường, thị trấn theo nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người nam giới mà qua lời khai của Phương Văn Đ đã giới thiệu cho Phương Văn Đ đến mua ma túy với Nông Quang Đ. Do Phương Văn Đ không biết được danh tính và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan CSĐT đã tổ chức xác minh, điều tra nhưng không có căn cứ làm rõ được đối tượng như lời khai của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Lê Anh T tại thành phố L, theo lời khai của bị cáo Lê Anh T thì bị cáo không biết được danh tính và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan CSĐT đã tổ chức xác minh, điều tra nhưng không có căn cứ làm rõ được đối tượng như lời khai của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xét thấy đối với 01 (một) phong bì thư ghi "Vật chứng thu giữ của Hoàng Văn S, sinh năm 1997, nơi cư trú thôn Q, xã T, huyện L, Lạng Sơn" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có tổng cộng 0,086 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói; 01 (một) phong bì thư ghi "Vật chứng thu giữ của Nông Quang Đ, sinh 1985, nơi cư trú khu C thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có tổng cộng 0,976 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy; 01 (một) xe mô tô BKS 12L1-049.55, nhãn hiệu HONDA, màu đen-xám-vàng, đã cũ qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho anh Hoàng Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng - hồng, có số IMEI1: 864239031958910, IMEI1: 864239031958902, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng màn hình bị vỡ, máy cũ, đã qua sử dụng là công cụ phương tiện liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nông Văn T. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu đen, có số IMEI1: 865257039041751, IMEI1: 865257039041744, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng màn hình bị vỡ, máy cũ, đã qua sử dụng, là công cụ phương tiện liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước của Vương Hùng T. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng - hồng, không kiểm tra được số IMEI do màn hình bị khóa không mở được bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng là công cụ phương tiện liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nông Quang Đ. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng, có số IMEI: 013533003142960, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng. là công cụ phương tiện liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước của Lê T Anh.
Các biện pháp tư pháp: Bị cáo Nông Quang Đ đã bán ma túy cho Phương Văn Đ được 200.000 đồng, bán ma túy cho Vương Hùng T được 400.000 đồng. Đây là tiền do phạm tội mà có nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần truy thu của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Nông Quang Đ, Lê Anh T, Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, q khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 215, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; khoản 2 Điều 106, các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án .
1. Về tội danh
Tuyên bố bị cáo Nông Quang Đ, Lê Anh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt
Xử phạt bị cáo Nông Quang Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2018.
Xử phạt bị cáo Lê Anh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2018.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/9/2018.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/9/2018.
Xử phạt bị cáo Vương Hùng T 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/9/2018.
3. Về xử lý vật chứng
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư ghi "Vật chứng thu giữ của Hoàng Văn S, sinh năm 1997, nơi cư trú thôn Q, xã T, huyện L, Lạng Sơn" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có tổng cộng 0,086 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói; 01 (một) phong bì thư ghi "Vật chứng thu giữ của Nông Quang Đ, sinh 1985, nơi cư trú khu C thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có tổng cộng 0,976 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói.
- Trả lại anh Hoàng Văn T: 01 (một) xe mô tô BKS 12L1-049.55, nhãn hiệu HONDA, màu đen-xám-vàng, đã cũ qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nông Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng - hồng, có số IMEI1: 864239031958910, IMEI1: 864239031958902, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng màn hình bị vỡ, máy cũ, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Vương Hùng T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu đen, có số IMEI1: 865257039041751, IMEI1: 865257039041744, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng màn hình bị vỡ, máy cũ, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nông Quang Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng - hồng, không kiểm tra được số IMEI do màn hình bị khóa không mở được bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Lê Anh T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone dạng màn hình cảm ứng từ, màu trắng, có số IMEI: 013533003142960, bên trong máy có 01 (một) sim Viettel. Tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 11 năm 2018).
4. Các biện pháp tư pháp
Truy thu của bị cáo Nông Quang Đ số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về án phí
Các bị cáo Nông Quang Đ, Lê Anh T, Hoàng Văn S, Nông Văn T, Vương Hùng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h. Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - Công an h. Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS CA huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ CA huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; Người CQLNVLQĐVA; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hoàng Văn Bình |