- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Minh V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Minh V (Cu M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2018/HS-ST Ngày: 26-11-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Thành Ngọc;
Ông Huỳnh Quan Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Anh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Sĩ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Phan Minh V (Cu M), sinh năm 1981, tại Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp K, xã T, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; Cha V Văn T (đã chết), mẹ Phan Thị H, sinh năm 1947; Vợ: Nguyễn Mỹ C, sinh năm 1986, có 02 con; tiền án: không, tiền sự: không;
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 166/HSST ngày 07-10-2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Minh V 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13-5-2002, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 31-7-2018, tạm giam ngày 09-8-2018 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lê Văn D, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30-7-2018, Phan Minh V đi bộ đến nhà người bạn tên C ở ấp K, xã T, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh để chơi. Tại đây, V gặp và mượn xe đạp của người tên M (không rõ lai lịch) để đi mua thức ăn. Sau đó V điều khiển xe đạp đến khu vực chợ H, nhìn thấy nhà Ông Lê Văn D mở cửa nên đẩy xe đạp vào dựng trong sân nhà ông D, nhìn thấy 03 xe mô tô dựng trước sân nhà không người trông coi, V lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển số 70L8-7373 màu đỏ đen của ông D có sẵn chìa khóa trong ổ khóa, nổ máy chạy về hướng cầu ông H, lúc này ông D phát hiện truy hô “cướp, cướp” và rượt đuổi theo V nhưng không kịp. Sau khi chạy thoát, V điều khiển xe sang Casino Campuchia cầm xe cho người không quen biết được 4.000.000 đồng. Sau đó V dùng số tiền này đánh bạc thua hết nên mượn thêm của người nhận cầm xe 200.000 đồng để đi xe ôm về nhà. Ngày 31-7-2018 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Thành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Tại kết luận định giá tài sản số 14 ngày 06-8-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hòa Thành kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen biển số 70L8-7373 có giá 8.000.000 đồng.
Về bồi thường thiệt hại: Ông Lê Văn D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 26.500.000 đồng.
Đối với người nhận xe do V cầm chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với người tên M cho V mượn xe đạp, hiện chưa xác định được, cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ.
Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
Tại bản cáo trạng số: 62/QĐ/KSĐT ngày 15 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành đã truy tố bị cáo Phan Minh V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành giữ quyền công tố tại phiên tòa, trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Minh V về tội: “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phan Minh V mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy các tài sản không còn giá trị sử dụng: 01 xà beng bằng kim loại, 01 dao tự chế, 02 khóa chữ T, 03 búa kim loại, 02 tuốt nơ vít, 01 mỏ lết, 11 khóa bằng kim loại, 02 kìm bằng kim loại, 01 cái mở bugi bằng kim loại, 01 thanh kim loại là tài sản không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng liên quan đến việc phạm tội: 01 (một) xe đạp màu trắng bạc, giỏ trước màu đen, có dán hiệu MARTIN 107, đã qua sử dụng;
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, làm người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Minh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 31-7-2018, tại nhà của Ông Lê Văn D, bị cáo đã lén lút lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển số 70L8-7373 màu đỏ đen đem qua Casino Campuchia cầm xe lấy tiền đánh bài hết. Chiếc xe mô tô mà bị cáo lấy trộm theo kết luận định giá là 8.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang và bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất tham lam, lười lao động và xem thường pháp luật đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo có nhân thân xấu, do đó, cần có mức án thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành đề nghị là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 xe đạp màu trắng bạc, giỏ trước màu đen, có dán hiệu MARTIN đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 xà beng bằng kim loại, 01 dao tự chế, 02 khóa chữ T, 03 búa kim loại, 02 tuốt nơ vít, 01 mỏ lết, 11 khóa bằng kim loại, 03 kìm bằng kim loại, 01 cái mở bugi bằng kim loại, 01 thanh kim loại là tài sản không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa Ông Lê Văn D yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển số 70L8-7373 màu đỏ đen mà bị cáo lấy trộm số tiền là 10.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Minh V (Cu M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Minh V (Cu M) 01 (Một) năm tù, thời hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày 31-7-2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe đạp màu trắng bạc, giỏ trước màu đen, có dán hiệu MARTIN 107, đã qua sử dụng;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) xà beng bằng kim loại dài 65cm;
- 01 (một) dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 20cm, lưỡi dài 09cm;
- 01 (một) khóa chữ T (loại 08mm) dài 29cm;
- 01 (một) khóa chữ T (loại 10mm) dài 29cm;
- 01 (một) búa kim loại, cán gỗ dài 19cm;
- 01 (một) búa kim loại, cán nhự dài 25cm;
- 01 (một) búa bằng kim loại, cán gỗ dài 30cm;
- 01 (một) tuốt nơ vít dài 30cm, cán dài 11cm;
- 01 (một) tuốt nơ vít dài 22cm, cán dài 08cm;
- 01 (một) mỏ lết bằng kim loại dài 30cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 19mm-21mm, dài 20.5cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 17mm-17mm, dài 21cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 22mm-22mm, dài 22cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 16mm-18mm, dài 17cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 13mm-13mm, dài 16.5cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 13mm-14mm, dài 14cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 14mm-17mm, dài 14cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 14mm-17mm, dài 15cm;
- 01 (một) khóa bằng kim loại 14mm-17mm, dài 16cm;
- 02 (hai) khóa bằng kim loại 14mm-17mm, dài 13cm;
- 02 (hai) khóa bằng kim loại 10mm-12mm, dài 13cm;
- 01 (một) kìm bằng kim loại dài 16cm;
- 02 (hai) kìm bằng kim loại dài 20cm;
- 01 (một) cái mở bugi bằng kim loại, dài 9.5cm;
- 01 (một) thanh kim loại hình chữ L, dài 26cm, ngang 07cm.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Phan Minh V (Cu M) bồi thường cho bị hại Lê Văn Dõn số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày Ông Lê Văn D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho ông D số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Bị cáo Phan Minh V (Cu M) phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Hòa Thành; - CCTHADS huyện Hòa Thành; - Công an huyện Hòa Thành; - Bị cáo V; - Bị hại D; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Cẩm Ly |