- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Lê Mỹ H và anh Mai Thanh T"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận chị Lê Mỹ H và anh Mai Thanh T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2018/HNGĐ-ST Ngày: 06/9/2018 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NINH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Thúy Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Quan Lộc.
2. Bà Lê Ngọc Trầm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Mỹ H, sinh năm 1985 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 70/3B, ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ nơi cư trú hiện nay: Ấp T, xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Anh Mai Thanh T, sinh năm 1985 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 70/3B, ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 01/6/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Mỹ H trình bày:
Chị H và anh T chung sống vợ chồng vào năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Anh chị sống chung hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T không lo làm ăn dẫn đến bất hòa, cãi nhau và chị H đã bỏ đi từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị H nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Anh chị sống chung có một con chung là Mai Anh K, sinh ngày 05/02/2011 đang sống chung với anh T. Chị H đồng ý giao cháu K cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Mai Thanh T trình bày:
Anh T thống nhất lời trình bày của chị H về thời gian chung sống, không có đăng ký kết hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Do anh T nghi ngờ chị H không chung thủy nên anh chị thường xuyên xảy ra bất hòa và sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Hiện tình cảm không còn nên anh T đồng ý ly hôn. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Mai Anh K, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị H và anh T sống chung không có đăng ký kết hôn nên đề nghị tuyên bố không công nhận anh chị là vợ chồng. Về con chung, anh chị có một người con là Mai Anh K, sinh ngày 05/02/2011, anh chị thống nhất giao cháu K cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra giải quyết. Tính án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Mỹ H và bị đơn anh Mai Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh T là có căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Lê Mỹ H và anh Mai Thanh T tự nguyện chung sống vào năm 2010, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, anh chị hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2015 không có hạnh phúc do anh chị thường xuyên bất hòa, không có sự tin tưởng lẫn nhau, đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, không quan tâm chăm sóc nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H và anh T thống nhất ly hôn. Xét thấy, việc anh chị chung sống không có đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình nên căn cứ vào Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị H và anh T là vợ chồng.
Về con chung: Chị H và anh T có một người con là Mai Anh K, sinh ngày 05/02/2011. Anh chị thỏa thuận giao cháu K cho anh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, sự thỏa thuận của anh chị là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T đều trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành về việc giải quyết vụ án phù hợp với những nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố không công nhận chị Lê Mỹ H và anh Mai Thanh T là vợ chồng.
2. Về con chung: Chị H và anh T có một con chung là Mai Anh K, sinh ngày 05/02/2011. Anh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012018 ngày 01 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận chị H đã nộp xong án phí.
Án dân sự sơ thẩm xử công khai, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Hòa Thành; - Chi cục THADS huyện Hòa Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Hồng Thúy Liễu |