vanban.org

Bản án 70/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Ngọc B và ông Lê Văn M.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Tấn B, sinh ngày 19/02/2005 cho ông Lê Văn M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Trần Thị Ngọc B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BICH - MEO"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Ngọc B và ông Lê Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN
Bản án số: 70/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 11 - 2018
V/v tranh chấp ly hôn giữa
bà B và ông M.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Hùng

Bà Võ Thị Trong

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 216/2018/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2018/QĐXX-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1980.

Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.(có mặt)

Bị đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1975

Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

(Bà B có mặt, ông M vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 8 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc B trình bày:

Bà và ông M chung sống với nhau từ năm 1998 nhưng không có đăng ký kết hôn, hôn nhân do hai bên tự tìm hiểu. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do bà và ông M bất đồng ý kiến với nhau, tính tình không hợp nên thường xuyên cãi vã. Hiện nay bà và ông M còn chung sống với nhau một nhà nhưng đã ly thân. Bà thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông M.

Về con chung: Bà và ông M có 02 người con chung tên:

- Trần Tuấn V, sinh ngày 25/10/1999.

- Trần Tấn B, sinh ngày 19/02/2005.

Hiện nay con chung tên Tuấn V đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn con chung tên Trần Tấn B hiện nay đang sống cùng bà và ông M, nguyện vọng của Tấn B là muốn sống với cha. Khi ly hôn, bà yêu cầu để ông M trực tiếp nuôi con tên Trần Tấn B, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Ông Lê Văn M là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Xét thấy bà B và ông M chung sống với từ năm 1998 nhưng cho đến nay không đăng ký kết hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà B và ông M. Về con chung, cần giao cho ông M trực tiếp nuôi con chung tên Tần Tấn B, bà B không phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Ngọc B khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn M. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Lê Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Thấy rằng, quan hệ hôn nhân giữa bà B với ông M được xác lập từ năm 1998 nhưng cho đến nay không đăng ký kết hôn, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T huyện C, tỉnh Long An và Ủy ban nhân dân phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hôn nhân không hợp pháp nên không được pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng.

Tại phiên tòa, bà B vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông M nhưng xét thấy cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà B với ông M là có căn cứ theo quy định tại Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về nuôi con chung: Bà B với ông M có với nhau 02 người con chung tên Trần Tuấn V, sinh ngày 25/10/1999 và Trần Tấn B, sinh ngày 19/02/2005.

Xét thấy, cháu Tuấn V đã thành niên, đương sự không có yêu cầu nên không xem xét. Còn cháu Tấn B đang sống với bà B và ông M, nguyện vọng của cháu Tấn B muốn sống với cha, Hội đồng xét xử xét thấy để không ảnh hưởng đến cuộc sống của con chung và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung nên cần thiết giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, bà B không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Bà B là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 14, 53, 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Ngọc B và ông Lê Văn M.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Tấn B, sinh ngày 19/02/2005 cho ông Lê Văn M trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà Trần Thị Ngọc B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con, có quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002432 ngày 14 tháng 9 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ