- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần AB.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2018/DS-ST Ngày: 15-11- 2018 V/v Tranh chấp Hợp đồng vay |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Văn Thanh.
Ông Đào Văn Hiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 08, 15/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 549/2015/TLST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2015 về “Tranh chấp hợp đồng vay” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 152/2018/QĐST-DS ngày 25/10/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần AB.
Trụ sở: 170, Hai Bà Trưng, phường Đa Kao, Quận 1, TP Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn T – sinh năm: 1959
Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh Q.
Chức vụ: Phó tổng giám đốc.
Theo Văn bản ủy quyền số 08/UQ-HĐQT.15, ngày 10/7/2015 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP AB.
Ủy quyền: Ông Trần Văn B - sinh năm: 1969
Theo Văn bản ủy quyền số 371/UQ-HĐQT.17, ngày 03/8/2017 của Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP AB.
Địa chỉ liên hệ: số 242- 244 Nguyễn Huệ, phường 2, TP Cao Lãnh, Đồng Tháp.
Bị đơn: Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Võ Hoàng Â
Võ Thị N Y - sinh năm: 1989.
Võ ĐB - sinh năm: 1990.
Nguyễn Thị S - sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Ấp M, xã KS, huyện CT, tỉnh TG.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Võ Thị N - sinh năm: 1952.
Nguyễn Thị K - sinh năm: 1983.
Phan Tấn H - sinh năm: 1982.
Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã TK, huyện TM, tỉnh ĐT.
(Ông B đại diện Ngân hàng có mặt; NY, ĐB, bà S, bà N có đơn xin vắng mặt; chị K và anh H vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần AB (ABBANK) đại diện theo ủy quyền ông B trình bày: Ngân hàng thương mại cổ phần AB – chi nhánh Đồng Tháp có ký với ông Võ Hoàng  hợp đồng tín dụng số 056/12/TD/XXX ngày 24/10/2012, với số tiền vay là 90.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay 15 %/ N. Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, ông  thế chấp quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã TK, huyện TM, Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 579388, số vào sổ cấp GCN: CH00507 do UBND huyện Tháp Mười cấp ngày 20/01/2011 do ông Võ Hoàng  đứng tên giấy chứng nhận.
Tính đến ngày 23/3/2015 ông  còn nợ lại Ngân hàng tổng số tiền 155.979.880đồng ( trong đó vốn 89.998.673đồng và lãi 25.981.243đồng)
Trong thời gian vay ông  thực hiện hợp đồng trả vốn và đóng lãi, kể từ ngày 26/10/2013 thì nợ của ông  đã quá hạn, Ngân hàng có thông báo cho ông  nhiều lần để thanh toán nợ vay cho Ngân hàng ABBANK nhưng ông  không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay. Đến ngày 17/11/2013 ông Võ Hoàng  chết, theo giấy chứng tử số 038/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã TK ngày 22/10/2014, hiện nay ông Võ Hoàng  có hai người con là Võ Thị NY và Võ ĐB là những người thừa kế thứ nhất và cũng là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Â. Ngân hàng đã liên hệ với NY, ĐB tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của ông  nhưng NY, ĐB không thực hiện việc trả nợ theo quy định.
Nay Ngân hàng ABBANK yêu cầu Võ ĐB, Võ Thị NY, bà Nguyễn Thị S là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Võ Hoàng  như sau:
1. Buộc ông Võ ĐB, bà Võ Thị NY và bà Nguyễn Thị S là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Võ Hoàng Â, phải có trách nhiệm trả nợ cho ABBANK tổng số tiền mà ông Võ Hoàng  còn nợ tính đến ngày 23/3/2015 là 115. 979.880 đồng (Một trăm mười lăm triệu, chín trăm bảy mươi chín nghìn, tám trăm tám mươi đồng), trong đó:
- Nợ gốc là 89.998.637đ (Tám mươi chín triệu chín trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm ba mươi bảy đồng).
- Nợ lãi tạm tính đến ngày 23/3/2015 là 25.981.243đ (Hai mươi lăm triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn hai trăm bốn mươi ba đồng).
2. Buộc ông Võ ĐB, bà Võ Thị NY và bà Nguyễn Thị S phải chịu số tiền lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng tín dụng số: 056/12/TD/XXX ngày 24/10/2012 mà ông Võ Hoàng  đã ký với ABBANK và thực hiện theo nội dung tại Hợp đồng tính dụng số: 056/12/TD/XXX ngày 24/10/2012 cho đến khi thanh toán hết nợ.
3. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 056/12/TD/XXX ngày 24/10/2012 để đảm bảo cho việc thi hành án tài sản là quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã TK, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 579388, số vào sổ cấp GCN: CH00507 do UBND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/01/2011 do ông Võ Hoàng  đứng tên giấy chứng nhận.
- Bị đơn Võ Thị NY, Võ ĐB trình bày: Anh, chị là con của ông Võ Hoàng  nhưng đã sống xa ông  cách đây hơn 20 năm, không có tới lui với ông Â, hiện nay anh, chị có cuộc sống riêng. Việc ông  thiếu nợ Ngân hàng ABBANK thì tùy Ngân hàng phát mãi tài sản của ông  để trả nợ, thiếu đủ gì thì tùy Ngân hàng giải quyết, anh chị không có ý kiến hay có yêu cầu gì cả, anh chị cũng từ chối không nhận di sản của ông  và xin vắng mặt.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà là vợ của ông  không có đăng ký kết hôn, bà sống với  có 02 đứa con. Sau đó, bà và ông  chia tay cách đây hơn 20 năm, vợ chồng không có tài sản chung, đất đai là của bên ông  việc thiếu nợ Ngân hàng bà không biết nếu Ngân hàng phát mãi thì phát mãi bà không thắc mắc và không nhận gì cả, bà không đến Tòa án vì bà phải đi làm thuê và bà có đơn xin vắng mặt và từ chối nhận di sản thừa kế của ông Ân.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật tố tụng, chị NY, anh ĐB, bà S, bà N có đơn xin vắng mặt. Riêng chị K và anh H không có mặt tại các phiên họp, hòa giải và phiên tòa hôm nay là chưa chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần AB.
Buộc chị NY, anh ĐB có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần AB, số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 23/3/2015 là 115.979.880đ và trả lãi theo hợp đồng thế chấp 056/12/XXX, trong phạm vi di sản của ông Võ Hoàng  để lại là thửa đất 1783 tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc ấp 2, xã TK, huyện Tháp Mười.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà N di dời mái chái và buộc chị K và anh H có nghĩa vụ di dời nhà ra khỏi phần đất của ông Â.
- Khi xử lý tài sản đảm bảo giữ nguyên hiện trạng căn nhà, khu mộ trên đất của ông Â.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Vào ngày 24/10/2012, ông Võ Hoàng  có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần AB (tên viết tắt ABBANK) tại Chi nhánh Đồng Tháp số tiền 90.000.000đ thời hạn vay 12 tháng, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số BĐ 579388, số vào sổ cấp GCN: CH00507, cấp ngày 20/01/2011, đến ngày 17/11/2013 ông  chết nên Ngân hàng yêu cầu những người thừa kế của ông  là bà Nguyễn Thị S, Võ Thị NY, Võ ĐB có nghĩa vụ trả nợ vốn và lãi tạm tính đến ngày 23/3/2015 số tiền 115.979.880đ nhưng bà S, chị NY, anh ĐB không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.
Xét yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần AB yêu cầu Nguyễn Thị S, Võ Thị NY, Võ ĐB có nghĩa vụ trả số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 23/3/2015, tổng cộng 115.979880đ là có một phần cơ sở vì ông  có 02 người con là Võ Thị NY và Võ ĐB, sau khi ông  chết thì người thừa kế hàng thứ nhất của ông  chỉ còn lại là chị NY và anh ĐB nhưng chị NY và anh ĐB từ nhỏ đã sống riêng với ông Ân, khi còn sống ông Ân có vay tiền của Ngân hàng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện di sản của ông  không ai quản lý. Do đó, sau khi ông  chết thì người thừa kế quyền và nghĩa vụ là chị NY và anh ĐB.
Đối với, bà S là vợ của ông  nhưng ông  và bà S sống chung từ N 1988, sau đó đến năm 2001 thì ông  và bà S không còn sống chung và cũng không có đăng ký kết hôn nên về quan hệ vợ chồng của bà S và ông Ân không được công nhận. Đồng thời, tài sản ông  thế chấp Ngân hàng là quyền sử dụng đất ông  được nhận thừa kế của cha là ông Võ Văn T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2011, thời gian này bà S và ông  đã không còn sống chung và bà S cũng thừa nhận tài sản (gồm đất, nhà) mà ông Ân thế chấp Ngân hàng là của ông  và bà không yêu cầu và cũng không nhận thừa kế nên bà S không thuộc hàng là người thừa kế quyền, nghĩa vụ của ông Â.
Ngoài ra, việc vay tiền của ông  có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất nhưng khi vay tiền thì chỉ một minh ông  ký nhận vay và theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án vay và trả nợ ngày 19/10/2012, Phần I, mục 1.Thông tin khách hàng vay về tình trạng hôn nhân của ông Ân được đánh dấu ly dị và thủ tục kèm hồ sơ vay của Ngân hàng có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã TK ông Võ Hoàng  hiện đang sống độc thân. Lẽ ra, khi cho vay thì Ngân hàng phải xác minh rõ tình trạng hôn nhân của ông  và ông  sống với ai, người thừa kế là ai và không thẩm định rõ tài sản thế chấp của ông  là quyền sử dụng đất không ghi hiện trạng đất có những tài sản gì trên đất. Đến khi xảy ra sự việc thì Ngân hàng mới xác nhận những người thừa kế của ông  và yêu cầu họ phải có nghĩa vụ trả nợ là chưa phù hợp vì khi ông  vay họ đã sống riêng, không có quan hệ kinh tế và họ đã có đơn xin từ chối nhận di sản thừa kế lý do họ đã không còn sống chung với  trước khi ông  được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vay tiền nhưng để đảm bảo việc xử lý nợ theo hợp đồng thế chấp số 056/12/TD/XXX ngày 24/10/2012 của ABBANK nên nghĩa vụ của những người thừa kế của ông Ân phải có trong phạm vi di sản của ông  để lại.
Theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự có ghi:
“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
…”
Đồng thời, tài sản bảo đảm thế chấp của ông  tại Ngân hàng ABBANK là giấy chứng nhận QSDĐ hiện tài sản trên không ai quản lý, qua khảo sát hiện trạng trên phần đất tại thửa 1783 của ông  có một căn nhà của ông  diện tích ngang 4,6m - dài 9,5m + với chiều dài sân, lộ (mặt tiền) từ nhà đến mé kênh K 27 là 11m (Nhà nến đất, vách ván đã cũ, mục; mái lợp tol, cây tạp) và trong nhà có 03 bàn thờ của ông Võ Văn T ( cha ông Â), Võ Văn TH là liệt sĩ (anh ông Â), ông Võ Hoàng  và khu mộ có diện tích chiều ngang mặt (hướng Bắc) là 5,5m – Ngang mặt (hướng Nam) là 9m và chiều dài (hướng Đông) là 11m- dài (hướng Tây) là 6,3m, trong đó có 5 cái mộ được xây kiên cố và có nền xây cuốn xi măng của gia đình ông Ân; Một mái chái nhà tạm của bà Võ Thị N có diện tích ngang 3m - dài 11m (mái lợp lá, vách lá cây tạp); Một căn nhà của chị Nguyễn Thị K có diện tích ngang 4,3m – dài 9,5m ( nền tráng xi măng, vách tol, mái lợp tol cây tạp cất N 2011).
Đối với, mái chái nhà tạm của bà N và căn nhà của chị K thống nhất nếu Ngân hàng có xử lý tài sản đảm bảo thế chấp thì bà N, chị K đồng ý di dời hoặc sẽ trả giá trị đất cho ông  để trả nợ Ngân hàng (tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/8/2017).
Việc vay tiền của Ngân hàng, ông Ân chỉ sử dụng cho mục đích cá nhân. Chị NY, anh ĐB không biết và cũng không có ký nhận các khoản nợ nào nên chị NY và anh ĐB không có nghĩa vụ phải thực hiện trả nợ Ngân hàng khi xử lý tài sản không đủ thanh toán khoản nợ nhưng chị NY và anh ĐB được hưởng thừa kế nếu như xử lý tài sản để trả nợ còn dư.
Do đó, việc xử lý tài sản đảm bảo thế chấp, Ngân hàng cần phải xem xét đối với căn nhà của ông  vì trong nhà có 03 bàn thờ (có 01 bàn thờ liệt sĩ Võ Văn Th) và một khu mộ có diện tích chiều ngang mặt (hướng Bắc) là 5,5m – Ngang mặt (hướng Nam) là 9m và chiều dài (hướng Đông) là 11m- dài (hướng Tây) là 6,3m, trong đó có 5 cái mộ được xây kiên cố và có nền xây cuốn xi măng của gia đình ông  nên cần phải giữ nguyên diện tích (ngang 4,6m – dài 20,5m) hiện trạng nhà để đảm bảo tình người và trật tự tại địa phương.
Đối với, bà S, chị Ý, anh ĐB trong quá trình giải quyết đã có đơn xin từ chối hưởng di sản thừa kế và xin vắng mặt, bà N cũng có đơn xin vắng mặt. Đối với chị K và anh H trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt trực tiếp các Thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và Hòa giải cho chị K nhận nhưng chị K, anh H cố tình vắng mặt và Tòa án cũng đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị K, anh H vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự có ghi:
“Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ”.
Xét, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện phát biểu về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng chị K, anh H không có mặt tại các phiên họp, hòa giải và phiên tòa hôm nay là chưa chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Và phát biểu về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn. Như đã nhận định ở phần trên. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện là có căn cứ chấp nhận.
Do chị NY, anh ĐB là người thừa kế của ông  có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí được tính trong phạm vi di sản thừa kế của ông  để lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 và Điều 615 Bộ luật Dân sự; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần AB.
Buộc chị Võ Thị NY và anh Võ ĐB là người thừa kế của ông Võ Hoàng  có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần AB số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 23/3/2015 là 115.979.880đ (Một trăm mười lăm triệu chín trăm bảy mươi chín ngàn tám trăm tám chục đồng), tiếp tục trả lãi theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 056/12/TD/XXX ngày 24/10/2012 và trả các khoản phí, án phí trong phạm vi di sản của ông  để lại, là quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã TK, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 579388, số vào sổ cấp GCN: CH00507 do Ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, cấp ngày 20/01/2011 do ông Võ Hoàng  đứng tên giấy chứng nhận. Sau khi thanh toán hết các khoảng nợ, phí và án phí, nếu còn dư lại thì chị NY và anh ĐB được hưởng.
- Bà Võ Thị N có nghĩa vụ di dời mái chái nhà tạm có diện tích ngang 3m - dài 11m (mái lợp lá, vách lá cây tạp) để giao lại đất theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 579388, số vào sổ cấp GCN: CH00507 do Ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/01/2011 do ông Võ Hoàng  đứng tên.
- Chị Nguyễn Thị K, anh Phan Tấn H có nghĩa vụ di dời một căn nhà có diện tích ngang 4,3m – dài 9,5m ( nền tráng xi măng, vách tol, mái lợp tol cây tạp cất N 2011) để giao lại đất theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 579388, số vào sổ cấp GCN: CH00507 do Ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/01/2011 do ông Võ Hoàng  đứng tên.
- Khi phát mãi tài sản đảm bảo thế chấp của ông Võ Hoàng  tại thửa 1783 tờ bản đồ số 03 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 056/12/TD/XXX ngày 24/10/2012 thì giữ lại hiện trạng một căn nhà của ông  diện tích ngang 4,6m - dài 9,5m + với chiều dài sân, lộ (mặt tiền) từ nhà đến mé kênh K 27 là 11m (Nhà nến đất, vách ván đã cũ, mục; mái lợp tol, cây tạp) và khu mộ có diện tích chiều ngang mặt (hướng Bắc) là 5,5m – Ngang mặt (hướng Nam) là 9m và chiều dài (hướng Đông) là 11m- dài (hướng Tây) là 6,3m, trong đó có 5 cái mộ được xây kiên cố và có nền xây cuốn xi măng của gia đình ông Â.
Về án phí: Võ Thị NY, Võ ĐB phải chịu 5.799.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được tính trong phạm vi di sản của ông Võ Hoàng  để lại theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 579388, số vào sổ cấp GCN: CH00507 do Ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/01/2011.
Ngân hàng thương mại cổ phần AB không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần AB 2.899.497đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số BM/2012 032238 quyển số 000645, ngày 15/6/2105 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay Ngân hàng thương mại cổ phần AB được quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án cấp trên. Đối với các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND Tỉnh ĐT; - VKSND cùng cấp; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án.(M) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Mai |