vanban.org

Bản án 70/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình về việc: "Xin ly hôn", giữa:

Nguyên đơn: Anh Huỳnh Tấn Phƣớc, sinh năm: 1985; Trú tại: Thôn 05, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Bị đơn: Chị Võ Thị Vân, sinh năm: 1988; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Ngư Thủy Bắc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 05, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình về việc: "Xin ly hôn", giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN PHƯỚC
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 01- 8 - 2017
V/v:“Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƢỚC, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Kim Thƣờng,

2. Bà Võ Thị Trà Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Kim Thắng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 65/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2017 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/QĐXX - HNGĐST ngày 19/7/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1996, trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Hồ Kim B, sinh năm: 1985, trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Q; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong nội dung đơn xin ly hôn và các lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L thể hiện: Chị và anh B tự nguyện tìm hiểu và xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Q vào năm 2015. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh B rượu chè say xỉn, bài bạc dẫn đến nợ nần nhiều rồi về nhà đánh đập chị. Anh còn chửi bới, xúc phạm đến gia đình cha mẹ ruột của chị. Hiện nay, chị cảm thấy không thể tiếp tục chung sống với anh B được nữa. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về nuôi con: Chị và anh B có một người con chung là cháu Hồ Thị Kim D, sinh ngày 23/01/2016. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D đến khi đủ 18 tuổi và yêu cầu anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Nhưng nếu anh B không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung thì chị cũng không yêu cầu anh B cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản ghi lời khai cũng như lời trình bày của bị đơn anh Hồ Kim B tại phiên hòa giải thể hiện: Anh thống nhất về việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa anh và chị L Trong thời gian sống chung, do bất đồng quan điểm sống, không ai nhường nhịn ai, hơn nữa gần đây con cái hay đau ốm nên vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã với nhau. Hiện tại, chị L đã dọn đồ đạc, bồng con về nhà mẹ ruột ở Tiên Hà để ở. Anh thừa nhận có uống rượu say xỉn nhưng anh không thể bỏ rượu được. Anh không có đánh đập vợ con, không cờ bạc như chị L trình bày. Anh muốn vợ chồng đoàn tụ gia đình để nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, nếu trường hợp Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn thì anh giao con cho chị L nuôi, anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn mặc dù vắng mặt nhưng đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, xử cho chị L ly hôn với anh B; về con chung: Giao cháu Hồ Thị Kim D, sinh ngày 23/01/2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; anh Hồ Kim B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do đương sự cung cấp đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn anh Hồ Kim B có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Xét thấy lý do anh B yêu cầu là chính đáng và phù hợp nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về quan hệ hôn nhân: Việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Kim B dựa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Q nên hôn nhân giữa chị L và anh B là hợp pháp. Sau một thời gian sống chung, cuộc sống vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ngoài ra anh B còn hay uống rượu, dẫn đến thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; hiện nay, chị L đã bồng con về nhà mẹ ruột ở xã T để sống. Mặc dù, anh B có nguyện vọng đoàn tụ gia đình nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị L kiên quyết xin ly hôn.

Theo các biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước thể hiện: anh B thường uống rượu; trước ngày nộp đơn xin ly hôn, chị L đã bồng con về nhà mẹ ruột ở xã T để sống. Anh B cũng thừa nhận vấn đề này.

Xét thấy, chị L và anh B hiện nay không chung sống cùng nhau, chị L vẫn cương quyết xin ly hôn nên mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, hạnh phúc vợ chồng đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, xử cho chị L được ly hôn với anh B.

. Về nuôi con: Chị L và anh B có một người con chung là cháu Hồ Thị Kim D, sinh ngày 23/01/2016. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Duyên đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; chị L không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung; vấn đề này anh B cũng thống nhất; hơn nữa cháu D dưới 36 tháng tuổi nên việc giao cho chị L nuôi là phù hợp, nên chấp nhận.

. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” của chị Nguyễn Thị L.

-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Hồ Kim B.

-Về nuôi con: Giao cháu Hồ Thị Kim D, sinh ngày 23/01/2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Hồ Kim B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

-Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng y) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam theo biên lai thu số 0018432 lập ngày 26 tháng 6 năm 2017. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/8/2017). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND h.Tiên Phước;

- Chi cục THADS h.Tiên Phước;

(Đã ký)

- Đương sự;

- UBND xã Tiên Cẩm, h.Tiên Phước;

- Lưu hồ sơ + án văn.

Nguyễn Thị Thanh Tuyên Mẫu số 53-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

QUYẾT ĐỊNH

ĐƢA VỤ ÁN RA XÉT XỬ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƢỚC

Căn cứ vào các điều 48, 203 và 220 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 03/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2017.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình về việc: "Xin ly hôn", giữa:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Tấn Phƣớc, sinh năm: 1985; Trú tại: Thôn 05, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

- Bị đơn: Chị Võ Thị Vân, sinh năm: 1988; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Ngư Thủy Bắc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 05, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Thời gian mở phiên toà: 07 giờ 30 phút, ngày 03 tháng 3 năm 2017.

Địa điểm mở phiên toà: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước (Địa chỉ: Số 12 đường Huỳnh Thúc Kháng, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam).

Vụ án được xét xử công khai.

2. Những ngƣời tiến hành tố tụng:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hải và bà Ngô Thị Bích Khuyên.

Hội thẩm nhân dân dự khuyết: Ông Hồ Ngọc Tiên, bà Võ Thị Trà Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

3. Những ngƣời tham gia tố tụng khác: Không có.

Cỡ chữ