- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69A/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27/5/2026 V/v tranh chấp: "Ly hôn" - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Tây 2. Bà Võ Thị Bời vực 1, tỉnh Khánh Hòa. Cẩm Nhung – Kiểm sát viên. mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 603/2025/TLST-HNGĐ ngày 24/12/2025 tranh chấp "Ly hôn"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2026/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Bà Trần Thị L - Sinh năm: 1982 ĐKHKTT: Tổ 33 H (1 N), phường B, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt * Bị đơn: Ông Trần Vũ B - Sinh năm: 1978 ĐKHKTT: Tổ 33 H (1 N), phường B, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt | Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Tôi và ông Trần Vũ B tự nguyện đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V (Nay là phường B) tỉnh Khánh Hòa vào ngày 07/7/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi sống hạnh phúc. Tuy nhiên, mấy năm gần gây, tôi và ông B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân nặng nề không hạnh phúc Nay, tôi xác định tình cảm không còn, vợ chồng chỉ trên danh nghĩa nên làm đơn xin Tòa án cho được ly hôn với ông B để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Tôi và ông B có 03 con chung là cháu Trần Ngọc Bảo T, sinh ngày 30/9/2001, Trần Bảo Khang D, sinh ngày 10/3/2006 và cháu Trần Bảo Minh Q, sinh ngày 23/7/2012. Hiện cháu T và cháu D đã trưởng thành và khỏe mạnh tôi không yêu cầu giải quyết. Riêng cháu Q tôi muốn tiếp tục nuôi dưỡng cháu cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết tài sản chung, không có nợ chung.
* Bị đơn ông Trần Vũ B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có mặt tại Tòa để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Vũ B vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L và ông Trần Vũ B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Khánh Hòa (Nay là phường B, tỉnh Khánh Hòa) vào năm 2003; theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 02. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng cần có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông B không hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng không tôn trọng nhau, cuộc sống hôn nhân đầy áp lực làm ảnh hưởng đến tinh thần hai bên là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong hôn nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông B đã không đến Tòa án làm việc cũng như cho lời khai về mối quan hệ hôn nhân với bà L cho thấy ông B cũng không muốn níu kéo mối quan hệ hôn nhân trên và bà L khẳng định không còn tình cảm với ông B nên xin ly hôn. Như vậy, mục đích hôn nhân của bà L và ông B không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của bà L là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Theo giấy khai sinh và lời khai của nguyên đơn thể hiện có 03 con chung. Cháu Trần Ngọc Bảo T và Trần Bảo Khang D đều trưởng thành và sống khỏe mạnh bà L không có yêu cầu. Cháu Trần Bảo Minh Q, xét thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung phát triển toàn diện và được sống ổn định nên giao cháu cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu và quy định của pháp luật.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị L không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung nên không xem xét.
Án phí: Căn cứ điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Nguyên đơn bà Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị L
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L và ông Trần Vũ B được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung là Trần Bảo Minh Q, sinh ngày 23/7/2012 cho bà Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, sau khi ly hôn.
Ông Trần Vũ B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Bà Trần Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị L không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
5. Án phí: Bà Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005018 ngày 24/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Trần Thị L đã nộp đủ án phí.
Quy định:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSNDKV1 – Khánh Hòa; - THADS tỉnh Khánh Hòa; - UBND p. Bắc Nha Trang, Khánh Hòa; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. Nguyễn Cát Hoàng Trân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa |