vanban.org

Bản án 697/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc H.

1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Huỳnh Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu S. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54, quyển số 1/2004 ngày 22/7/2004 do UBND phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 697/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 23-5-2023.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Thải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Công Hợp.

2. Bà Lê Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân - Thư ký, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, THnh phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thƣơng Thƣơng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1473/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2023, giữa:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc H, Sinh năm 1986;

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu S, Sinh năm 1972;

Cùng địa chỉ: Số 02 phường B, quận T, Thành phố H.

(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông S vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Huỳnh Thị Ngọc H, trình bày: Bà và ông Nguyễn Hữu S chung sống năm 2004, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54, quyển số 1/2004 ngày 22/7/2004 do UBND phường B, quận T, Thành phố H cấp. Bà cho rằng trong quá trình chung sống thì có nhiều bất đồng quan điểm, không hòa hợp, nên mâu thuẫn phát S trầm trọng không hàn gắn được. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà có yêu cầu được ly hôn với ông S. Trong quá trình chung sống, bà và ông S có 05 con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu N, sinh ngày 22/5/2004; Nguyễn Huỳnh Hiếu D, sinh ngày 05/3/2005; Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010; Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012. Hiện nay các con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu N, sinh ngày 22/5/2004 và Nguyễn Huỳnh Hiếu D, sinh ngày 05/3/2005, đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu gì, bà chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung gồm Nguyễn Huỳnh Hiếu L; Nguyễn Huỳnh Hiếu T và Nguyễn Huỳnh Phương L và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Hữu S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần đến Tòa để giải quyết việc ly hôn giữa ông với bà H. Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu ông S có mặt để Tòa án tiến hành xét xử giải quyết việc ly hôn giữa ông với bà H nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông S.

Tại phiên tòa hôm nay:

* Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu S đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai để Tòa án tiến hành xét xử giải quyết việc ly hôn giữa ông với bà H nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; Thông báo và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.

Về nội dung: Bà Huỳnh Thị Ngọc H và ông Nguyễn Hữu S chung sống năm 2004, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54, quyển số 1/2004 ngày 22/7/2004 do UBND phường B, quận T, Thành phố H cấp. Trong quá trình chung sống, đôi bên phát S mâu thuẫn nên bà H có yêu cầu ly hôn với ông S. Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông S. Về con chung: Có 05 con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu N, sinh ngày 22/5/2004 (đã trưởng thành); Nguyễn Huỳnh Hiếu D, sinh ngày 05/3/2005 (đã trưởng thành); Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010; Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012. Hiện nay các con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu N và Nguyễn Huỳnh Hiếu D đều đã trưởng thành, bà H không có yêu cầu gì, bà chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung gồm Nguyễn Huỳnh Hiếu L; Nguyễn Huỳnh Hiếu T và Nguyễn Huỳnh Phương L, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010 và Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, do các đương sự không có yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Huỳnh Thị Ngọc H có đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu S, bị đơn có địa chỉ tại số 02 phường B, quận T. Đây là vụ án dân sự về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Về nội dung: Bà Huỳnh Thị Ngọc H và ông Nguyễn Hữu S tự nguyện chung sống với nhau năm 2004, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54, quyển số 1/2004 ngày 22/7/2004 do UBND phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đây là hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do mâu thuẫn nên bà H có đơn yêu cầu ly hôn với ông S.

[2.1]. Qua yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc H, Hội đồng xét xử xét thấy, hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu của cả vợ và chồng, đôi bên phải thật sự tin yêu, tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau nhưng hiện tại thì bà H đã không còn tha thiết chung sống với ông S nữa.

Ngày 18/11/2022, Tòa án nhân dân quận Bình Tân có tham khảo ý kiến về tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Huỳnh Thị Ngọc H và ông Nguyễn Hữu S tại UBND phường B, quận T, có kết quả trả lời: “...1. Bà Huỳnh Thị Ngọc H, SN: 1986 và ông Nguyễn Hữu S, SN: 1972, địa chỉ số 02 phường B, quận T, Tp.H có kết hôn và chung sống với nhau. Trong thời gian cư ngụ tại địa phương, UBND phường chưa nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn giữa ông S và bà H...”. Ngày 17/02/2023, qua xác minh tại Công an phường B, quận T, được biết: “Nhân khẩu Nguyễn Hữu S, S năm 1972, có hộ khẩu thường trú, thực tế cư trú tại 02 phường B, quận T, TP.H”.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải, tác động để đôi bên được hàn gắn, đoàn tụ nhưng bà H vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông S, còn ông S vắng mặt không có lý do. Từ đó cho thấy, đôi bên không còn quan tâm đến nhau nữa, tình cảm vợ chồng của bà H và ông S đã thật sự phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc tiếp tục chung sống là không còn ý nghĩa.

Từ những nhận định trên, nên yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Ngọc H đối với ông Nguyễn Hữu S là có cơ sở chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ nhưng phải dựa trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, bà H với ông S có 05 con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu Na, sinh ngày 22/5/2004; Nguyễn Huỳnh Hiếu D, sinh ngày 05/3/2005; Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010 và Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012. Hiện nay, con chung Nguyễn Huỳnh Hiếu N, sinh ngày 22/5/2004 và Nguyễn Huỳnh Hiếu D, sinh ngày 05/3/2005, đã trưởng thành, các bên không có yêu cầu nên Tòa không xét. Các con chung Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010 và Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012, còn nhỏ, đang được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và có nguyện vọng được sống với bà H. Khi ly hôn, bà H có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là trẻ L, trẻ T và trẻ L và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, các con chung là trẻ L, trẻ T và trẻ L còn nhỏ và đang được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, để đảm bảo sự ổn định cuộc sống hiện tại của con chung, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và để đảm bảo việc phát triển tốt về mọi mặt của trẻ nên giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là cần thiết và cũng đúng với nguyện vọng của trẻ.

Từ những nhận định trên, đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010 và Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012 của bà H là có cơ sở chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc H khai nhận đôi bên không có tài sản chung, nợ chung cũng như các nghĩa vụ dân sự khác và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xét.

[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông S, giao cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010 và Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4]. Về án phí: Do yêu cầu ly hôn được chấp nhận nên bà Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 227; Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016 của UBTVQH.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc H.

1.1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Huỳnh Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu S.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54, quyển số 1/2004 ngày 22/7/2004 do UBND phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Về con chung: Giao cho bà Huỳnh Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là Nguyễn Huỳnh Hiếu L, sinh ngày 27/10/2008; Nguyễn Huỳnh Hiếu T, sinh ngày 12/02/2010 và Nguyễn Huỳnh Phương L, sinh ngày 13/8/2012. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Hữu S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức gồm: Người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc H khai nhận đôi bên không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xét.

1.4. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Huỳnh Thị Ngọc H khai nhận đôi bên không có nợ chung cũng như các nghĩa vụ dân sự khác và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xét.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009581 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, THnh phố Hồ Chí Minh. Bà Huỳnh Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.

Đôi bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ