- Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Văn L kiện Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiên ông Trần Văn L .
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 697/2019/HC-PT Ngày 27-9-2019 V/v:“khiếu kiện quyết định hành chính trong trường hợp bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán:
Ông Trương Văn Bình
Ông Hoàng Minh Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngát - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 356/2018/TLPT-HC ngày 18 tháng 7 năm 2018 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong trường họp bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2018/HC-ST ngày 26 tháng 4 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 670A/2019/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Văn L, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp X12, xã P, huyện P1, tỉnh Bạc Liêu
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Bùi Khắc T thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
- Người bị kiện:
1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu: Ông Lê Minh C - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu (xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số 05, đường N, Phường X1, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn P1, huyện P1, tỉnh Bạc
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu (xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn P, huyện P1, tỉnh Bạc Liêu.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Trần Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của người khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm người khởi kiện ông Trần Văn L trình bày nội dung sau:
Nguồn gốc phần đất mà Nhà nước thu hồi của ông là của ông Nguyễn Văn L1 khai phá từ trước năm 1975 cho đến năm 1989 thì ông L1 chuyển nhượng lại phần diện tích đất 2.335m2 cho ông, phần đất này là đất vườn trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp 2A, xã P, huyện P1, tỉnh Bạc Liêu. Việc ông nhận chuyến nhượng đất của ông L1 thì có làm tờ họp đồng mua bán đất và ông có đăng ký kê khai phần đất này. Phần đất này là đất mặt tiền, giáp lộ tráng xi măng 3m, chạy dài từ xã P vô đến khu vực ấp 9B xã P, huyện P1, tỉnh Bạc Liêu. Phần đất sau hậu giáp với đất nuôi tôm công nghiệp của ông Đặng Văn Hậu, hướng Nam giáp với trường tiểu học cơ sở xã P.
Quá trình ông sử dụng đất từ năm 1998 (nhận chuyển nhượng từ ông L1) đên khi Nhà nước thu hồi đất thì ông đều sử dụng ổn định, trên đất có trồng cây lâu năm và cất nhà ở, việc sử dụng đất của gia đình ông từ trước đến nay không phát sinh tranh chấp với ai.
Đến ngày 31/10/2014, ông nhận được thông báo số 105/TB-UBND ngày 3 1/10/2014 của Ủy ban nhân dân huyện P1 về việc thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng tuyến đường P1 - P, đoạn từ km 15 + 960 đến lan 26 + 052. Đến ngày 31/7/2015, Ủy ban nhân dân huyện Phưóc Long ban hành quyết định sổ 534/QĐ-ƯBND về việc thu hồi phần diện tích đất của ông với diện tích bị thu hồi là 1,052,40m2, đất tại thửa 10, tờ bản đồ số 07, loại đất trồng cây lâu năm (theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất), được trích đo từ tờ bản đồ số 48, thửa số 10, đất tọa lạc tại ấp 2A, xã P, huyện P1, tỉnh Bạc Liêu. Đến ngày 26/8/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1 ban hành quyết định số 2445/QĐ-ƯBND về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phần đất đã thu hồi của ông với đơn giá bồi thường cho ông 01m2 là 882.500 đồng, tổng cộng bồi thường về giá trị đất, thiệt hại về cây trái, hoa màu cho ông là 953.508.000 đồng. Ngày 27/12/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1 tiếp tục ban hành quyêt định s 4696/QĐ-UBND về việc chi trả bồi thường bố sung cho ông, với đơn giá bồi thường là 1.000.000 đồng/m2, số tiền ông được nhận bồi thưòng, bổ sung là 123.657.000 đồng.
Không đồng ý với mức giá bồi thường trên nên ông khiếu nại yêu cầu được bồi thường mức giá 1.500.000 đồng/m2, vì việc bồi thường cho ông với mức giá 1.000.000đồng/m2 là thấp hơn so với một số hộ lân cận có đất bị thu hồi như ông, ngày 31/7/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số 1525/QĐ-UBND không chấp nhận đơn yêu câu của ông, ông tiếp tục khiếu nại thì ngày 13/10/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số 1854/QĐ-UBND với nội dung giữ nguyên quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1.
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết hủy nội dung hai quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu và quyết định giải quyết khiếu nại số 1854/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Theo văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, người bị kiện Chủ tịch Uy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày nội dung sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu thống nhất với nội dung trình bày của ông Trần Văn L về nguồn gốc đất tranh chấp và quá trình sử dụng đất của ông Trần Văn L. Ngày 31/7/2015, Ủy ban nhân dân huyện P1 ban hành quyết định số 534/QĐ-UBND về việc thu hồi một phần diện tích đất nêu trên của ông L để thực hiện dự án nâng cấp, mở rộng tuyến đường P1 - P, diện tích thu hồi là 1.052,4m2, diện tích đất còn lại liền kề với phần đất bị thu hồi là 1.317,1 m2.
Sau khi thu hồi đất của ông L thì ngày 26/8/2015 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu ban hành quyết định số 2445/ỌĐ-UBND chi trả tiền bồi thường cho ông L căn cứ theo các quyết định số 803/QĐ-UBND ngày 01/6/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; Quyết định số 158/QĐ-UBND ngày 04/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc điều chỉnh một phần nội dung quyết định số 803/QĐ-UBND ngày 01/6/2015 và các quy định pháp luật về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất thì việc bồi thường đất cho ông Trần Văn L với mức giá đúng quy định pháp luật. Do đó, việc ông L yêu cầu nâng giá bồi thường 1.500.000 đồng/m2 là không có căn cứ để chấp nhận nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số 1854/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 giữ nguyên quyết định giải quyết khiếu nại số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1 là đúng quy định pháp luật.
Người bị kiện Chủ tịch Uy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu và. người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu trình bày ý kiến:
Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của ông Trần Văn L theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, không trình bày ý kiến bổ sung gì thêm đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 04/2018/HC-ST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:
- Căn cứ vào các Điều 30, 32, 53, 55, 60, 115, 116, 156, 158, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
- Căn cứ vào Luật khiêu nại năm 2011;
- Căn cứ vào Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; Quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu về việc giải quyết khiếu nại của ông L đối với yêu cầu xem xét lại các quyết định số 2445/QĐ-UBND ngày 26/8/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu về việc chi trả bồi thường và Quyết định số 4696/QĐ-UBND ngày 27/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu về việc chi trả bồi thường, bổ sung vói nội dung nâng giá đất bồi thường 1.500.000đ/m2.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/5/2018, người khởi kiện ông Trần Văn L có đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, tuyên hủy các Quyết định:
1/ Quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu.
2/ Quyết định giải quyết khiếu nại số 1854/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc giải quyết khiếu nại .
3/ Yêu cầu giá bồi thường nâng lên giá 1.500.000đồng/m2.
Tại phiên tòa ông Trần Văn L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có văn bản xin xét xử vắng mặt. Đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện phân tích toàn bộ các chứng cứ có thể hiện trong hồ sơ vụ án, cho rằng các Quyết định của Chủ tich Uỷ ban nhân dân huyện P1 tỉnh Bạc Liêu, áp giá bồi thường đất cho ông Trần Văn L là chưa đúng theo quy định của pháp luật, căn cứ Điều 100 Luật đất đai năm 2013 thì ông L đã đủ điều kiện bồi thường theo quy định pháp luật. Từ đó vị luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L: Hủy các Quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện P1 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 1854/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu và bồi thường theo giá đất là 1.500.000đồng/m2
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính, và tuân thủ đúng thực hiện đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Sau khi phân tích toàn bộ các chứng cứ có thể hiện trong hồ sơ vụ án, và xét yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Văn L, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Căn cứ vào các tái liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án cũng như qua thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận của các đương sự và ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của ông Trần Văn L là trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2018/HC-ST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc yêu cầu hủy các quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện P1 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 1845/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, và bác yêu cầu bồi thường nâng giá đất từ 1.000.000 đồng/m2, lên 1.500.000đồng/m2, như những hộ lân cận đất ông, là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Bởi:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật đất đai năm 2013 và Điều 3 quyết định số 23/2014 của Chủ tịch Uy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu thì: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điếm quyết định thu hồi đất” và theo quy định tại khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật đất đai năm 2013 thì “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giả đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thế. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể” và ‘‘giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ tính tiền bôi thường khi thu hồi đất”. Căn cứ vào các quy định nêu trên thì vào năm 2015 Nhà nước thu hồi đất của ông L thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã ban hành quyết định số 803/QĐ-UBND ngày 01/6/2015 về phê duyệt hệ số điều chỉnh để xác định giá đất cụ thể để thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Quyết định số 158/QĐ-UBND ngày 04/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc điều chỉnh một phần nội dung quyết định số 803/QĐ-UBND ngày 01/6/2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân huyện P1 đã căn cứ vào quyết định về phê duyệt hệ số điều chỉnh xác định giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh để ra quyết định bồi thường cho ông L tại thời điểm thu hồi đất và điều chỉnh lại giá đất để bồi thường bố sung cho ông L là đã thực hiện theo đúng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 5 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 74; Điều 75 Luật đất đai năm 2013.
Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1 đã ban hành các quyết định phê duyệt hệ số điều chỉnh để xác định giá đất cụ thể, quyết định chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho ông L là đảm bảo quyền lợi cho ông L và đúng quy định pháp luật. Nên việc ông L khiếu nại yêu cầu nâng giá đất bồi thường 1.500.000 đồng/m2 là không có căn cứ. Vì vậy, việc ban hành Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Quyết định số 1525/QĐ-ƯBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu giải quyết khiếu nại không chấp nhận yêu cẩu của ông L là có căn cứ.
Ông L xác định phần đất ông bị Nhà nước thu hồi là đất trồng cây lâu năm nhưng khi ra quyết định thu hồi và bồi thường thì Ủy ban nhân dân huyện P1 lại xác định là loại đất nông nghiệp xen kẽ khi dân cư để bồi thường cho ông là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông. Xét thấy: Căn cứ theo quy định tại điếm b khoản 1 Điều 10 Luật đất đai năm 2013 thì đất trồng cây lâu lăm cũng thuộc nhóm đất nông nghiệp. Do đó, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu xác định loại đất bồi thường cho ông là đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư là đúng quy định pháp luật, vẫn đảm bảo quyền lợi của ông.
Ông L kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, nhưng không có cung cấp hay bổ sung thêm tình tiết, chứng cứ nào mới để làm cơ sở cho việc yêu cầu kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận theo yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L, thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí: Ông Trần Văn L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiên ông Trần Văn L .
Giữ nguyên bản án án hành chính sơ thẩm số: 04/2018/HC-ST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân tinh Bạc Liêu.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1854/QĐ-UBND ngày 13/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu; Quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu về việc giải quyết khiếu nại của ông L đối với yêu cầu xem xét lại các quyết định số 2445/QĐ-UBND ngày 26/8/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu về việc chi trả bồi thường và Quyết định số 4696/QĐ-ƯBND ngày 27/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P1, tỉnh Bạc Liêu về việc chi trả bồi thường, bổ sung vói nội dung nâng giá đất bồi thường 1.500.000đ/m2.
Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, khi hết thời hạn khang cáo kháng nghị.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Trần Văn L phải chịu, khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009656 ngày 08/5/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu; - NKK (1); - NBK (2); -NLQ (1); - Lưu (10) 19b (Án39). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Mười |