vanban.org

Bản án 696/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hội đồng xét xử Quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T: Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Ái Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Hội đồng xét xử Quyết định:
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒTÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 696/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22/7/2019
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhoán;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lương;

2. Ông Nguyễn Minh Tuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 71/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2019/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ái Th, sinh năm 1987. Địa chỉ: Đường M, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông Th tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 279, quyển số 01/2008, cấp ngày 08/9/2008 tại Uỷ ban nhân dân phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian sống chung, cả hai liên tục phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, bà bị ông Th đánh rất nhiều lần. Bà và ông Th đã ly thân từ tháng 4/2017 đến nay, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Trần Khả D, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 30/10/2011, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi hai con chung là 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung : Không có.

Tại phiên tòa:

Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, về con chung, về tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn Ông Nguyễn Ái Th vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tuy nhiên, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử.

- Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa đã đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Thanh T có đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ái Th, địa chỉ: G4.4 chung cư Cách mạng tháng 8, đường Trường Chinh, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số 279, quyển số 01/2008, cấp ngày 08/9/2008 tại Uỷ ban nhân dân phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thanh T có đơn yêu cầu ly hôn với Ông Nguyễn Ái Th là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà T cương quyết xin ly hôn với ông Th do bất đồng ý kiến, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, bà bị ông Th đánh rất nhiều lần. Bà và ông Th đã ly thân từ tháng 4/2017 đến nay, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm.

Từ khi thụ lý đến khi xét xử, ông Th không đến Tòa để tự khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; hòa giải; xét xử và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với việc bà T xin ly hôn, chứng tỏ ông Th không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông Nguyễn Ái Th.

Về con chung và mức cấp dưỡng nuôi con: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Trần Khả D, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 30/10/2011, yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi hai con chung là 2.000.000 đồng/tháng.

Xét thấy: Hiện cháu D và cháu T đang sinh sống cùng bà T và hai cháu đều có nguyện vọng ở cùng với mẹ. Ông Th vắng mặt cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình về con chung và mức cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu D và cháu T cho bà T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp và đảm bảo sự phát triển ổn định về sinh hoạt, tâm lý và sức khỏe cho trẻ. Bà T yêu cầu cấp dưỡng nuôi hai con chung 2.000.000đ/tháng (mỗi con là 1.000.000đồng/tháng) là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc ông Th phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung 2.000.000đ/tháng (mỗi con là 1.000.000đồng/tháng), bắt đầu thi hành từ tháng 8/2019 cho đến khi con chung thành niên.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Theo Khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Trần Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Th phải chịu tiền án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ 300.000đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào điểm a khoản 5; điểm đ, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Hội đồng xét xử Quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T:

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Ái Th.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Khả D, sinh ngày 29/3/2009 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 30/10/2011 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, Ông Nguyễn Ái Th có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) (mỗi con là 1.000.000đồng/tháng) cho đến khi con chung thành niên, bắt đầu thi hành từ tháng 8/2019 tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014 Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Trần Thị Thanh T đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Ái Th còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tạm ứng án phí do bà T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0037610 ngày 19/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

Ông Nguyễn Ái Th phải chịu tiền án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà T có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Th vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ