vanban.org

Bản án 695/2026/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 17/08/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/08/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Lý Văn N- Trang Thị Đ"
  • Căn cứ chính? Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 695/2026/DS-PT
Ngày: 17- 8 - 2026;
V/v “Tranh chấp đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thơ.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng;

Bà Lâm Ngọc Tuyền.

- Th ký phiên tòa: Bà Trần Lưu Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp: Bà Trần Thị Điểu – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 455/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 7 năm 2026 về việc: “Tranh chấp đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 61/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1234/2026/QĐ-PT ngày 28 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lý Văn Não, sinh năm 1947.(có mặt)

Địa chỉ: Ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Quí, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn:

2.1. Trang Thị Điều, sinh năm 1979.

2.2. Lê Công Đoàn, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: Ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Quí, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện ủy quyền của anh Đoàn và chị Điều: Huỳnh Ngọc Em, sinh 1978

Nơi cư trú : Khu phố An Lạc, Phường Mỹ Trà, Đồng Tháp. (có mặt)

3. Ng ời kháng cáo: Bị đơn Trang Thị Điều, Lê Công Đoàn.

NỘI D NG V ÁN:

Nguyên đơn Lý Văn Não trình bày:

Căn cứ Quyết định số 110/2024/QĐST của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp (cũ), nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Tháp về việc “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự” trong vụ án dân sự số 815/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023. Nội dung Quyết định ghi rõ:

1. “Ông Lý Văn Não, anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều thống nhất thỏa thuận chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau và tách quyền sử dụng đất như sau: Anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều có trách nhiệm tách quyền sử dụng đất cho ông Lý Văn Não diện tích đo đạc thực tế 4.560,3m2 thuộc một phần thửa đất số 2615, tờ bản đồ số 01 tên Trang Thị Điều, địa chỉ thửa đất tại xã Mỹ Đông (cũ), nay là xã Mỹ Quí, tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-L1-L8-M17-M1”.

2. Ông Lý Văn Não có trách nhiệm tách quyền sử dụng đất cho chị Trang Thị Điều diện tích đo đạc thực tế 4.992,4m2 thuộc một phần thửa đất số 2616, tờ bản đồ 01 tên Lý Văn Não, địa chỉ thửa đất tại xã Mỹ Đông (cũ) trong phạm vi các móc L8-M6-L5-L6-L8.

Việc hai bên thỏa thuận đổi đất là tự nguyện và được Tòa án ban hành Quyết định theo quy định của pháp luật. Nhưng sau đó hai bên chưa thực hiện xong phần tách thửa sang tên cho nhau theo Quyết định thì phần đất của bà Điều đổi cho ông Não nằm trong diện Nhà nước thu hồi đất thực hiện Cao tốc Mỹ An – Cao Lãnh.

Bà Điều đã đến chính quyền địa phương nhận tiền bồi hoàn hỗ trợ về đất bị thu hồi và cây trồng trên đất của diện tích đất đã đổi cho ông Não. Sau đó, bà Điều giao lại tiền đất cho ông Não, còn tiền bồi hoàn cây trồng trên đất thì bà Điều không giao lại cho ông Não. Ông Não nhiều lần yêu cầu bà Điều phải trả cho ông Não số tiền nhà nước bồi thường về cây trồng trên phần diện tích đất bà Điều đổi cho ông Não có các cây Bình bát, Bạch đàn, Xoan tổng cộng số tiền 20.930.000d (hai mươi triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) theo Phương án chi tiết về bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản. Nhưng, bà Điều và ông Đoàn không trả.

Ông Não đã gửi đơn đến UBND xã Mỹ Đông (cũ) xin giải quyết. Ngày 23/05/2025 UBND xã Mỹ Đông mời hai bên đến giải quyết, nhưng không thành.

Theo đơn khởi kiện, ông Não yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Trang Thị Điều và ông Lê Công Đoàn phải trả cho ông Lý Văn Não số tiền 20.930.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) là tiền nhà nước bồi thường về cây trồng trên phần diện tích đất bà Trang Thị Điều đã đổi cho ông Lý Văn Não.

Ngoài ra, ông Não không còn tranh chấp hay yêu cầu gì khác.

Bị đơn Lê Công Đoàn trình bày:

Anh Đoàn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lý Văn Não. Các cây trồng Bình Bát và Bạch Đàn trên đất được nhà nước bồi thường là do anh Đoàn trồng năm 2019 để chống sạt lỡ bờ. Từ năm 2019 đến khi nhà nước thu hồi và bồi thường thì anh Đoàn là người quản lý, canh tác đất và chăm sóc các cây trồng này, ông Não chỉ canh tác phần đất lúa phía dưới chứ không có sử dụng cũng như canh tác trên cái bờ nay là đường lộ xe Kênh 800. Do đó, việc nhà nước bồi thường đối với các cây trồng cho vợ chồng anh được hưởng số tiền là 20.930.000 đồng là đúng với quy định của pháp luật. Việc anh trồng cây không có ai chứng kiến và biết sự việc này, cây giống anh trồng là do khi múc kênh thì cây con tự lên rồi anh nhổ để trồng cặp bờ.

Bản án sơ thẩm không ghi nhận lời trình bày của bà Trang Thị Điều.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 61/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lý Văn Não.

Buộc vợ chồng ông Lê Công Đoàn và bà Trang Thị Điều phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Lý Văn Não số tiền 20.930.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí, nghĩa vụ chậm trả khi thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, ông Lê Công Đoàn và bà Trang Thị Điều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 61/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Tháp, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của anh Đoàn, chị Điều thay đổi yêu cầu kháng cáo, đồng ý trả cho ông Não ½ số tiền bồi thường cây trồng trên đất là 10.465.000 đồng. Ông Não cũng đồng ý nhận số tiền 10.465.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử phúc thẩm tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hai bên thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án, đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về nội dung kháng cáo, xét thấy:

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện ủy quyền của bị đơn đồng ý trả lại ½ số tiền bồi thường cây trồng trên đất cho ông Não là 10.465.000 đồng. Ông Não cũng đồng ý nhận số tiền này. Nhận thấy tại phiên toà các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Do vậy, hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 300; khoản 2 điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều phải chịu 300.000 đồng án phí DSPT.

Vì các lẽ trên;

Q YẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Lý Văn Não với anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 61/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Tháp.

Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự,

1. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Lý Văn Não với anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều.

Vợ chồng ông Lê Công Đoàn và bà Trang Thị Điều phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Lý Văn Não số tiền 10.465.000 đồng (Mười triệu, bốn trăm sáu mươi lăm ngàn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều phải chịu 523.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí phúc thẩm: anh Lê Công Đoàn và chị Trang Thị Điều phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Anh Đoàn và chị Điều đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007655 ngày 15/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp xem như thi hành xong án phí phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng Lâm Ngọc Tuyền

Hoàng Thị Thơ

.

Cỡ chữ