vanban.org

Bản án 693/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Điều 39, Điều 91, Khoản 2, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Khoản 3, Điều 208,

tụng dân sự; 1, Điều 56, Điều 57, Điều 58, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1, Điều 39, Điều 91, Khoản 2, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Khoản 3, Điều 208,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí Tòa án; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NH ÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 693/2019/HNGĐ-ST

Ngày: 08/10/2019

V/V tranh chấp ly hôn, nuôi con .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NH ÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : ông Đỗ Khắc Dương. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh. 2. Bà Trần Tiểu Quỳnh. - Thư ký phiên tòa: bà Lương Vũ Thùy Dung là Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Hạnh-Kiểm sát viên. Trong ngày 08 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 429/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/6/2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Thái Ngọc Phương H, sinh năm 1985. (vắng mặt) 2. Bị đơn: ông Du Duy T, sinh năm 1985. (vắng mặt) Cùng địa chỉ: đường B, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: - Về quan hệ hôn nhân: bà H và ông T là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72, quyển số 01/2006 do Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/6/2006. Trong thời gian chung sống vợ chồng bà H và ông T thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, lối sống và cách ứng xử, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, chồng bà không quan tâm và không có trách nhiệm đối với vợ con. Vợ chồng bà đã tự hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và bà không thể tiếp tục sống chung với nhau. Nay bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: bà H và ông T có 02 con chung tên Du Phương U, sinh ngày 26/11/2005 và Du Duy H2, sinh ngày 03/4/2007. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung sau khi ly hôn. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Ngoài ra, bà H trình bày bà được mẹ đẻ là bà Nguyễn Phương P, sinh năm 1951 đã có văn bản đồng ý cho mẹ con bà ở dài hạn tại nhà của mẹ bà để đảm bảo cho các con của bà H ăn học, ổn định cuộc sống. - Về tài sản chung, nợ chung: bà H xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H cam kết chỉ nộp đơn yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 7, không nộp đơn ly hôn tại Tòa án nào khác và việc ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ khác. 2. Bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa. 3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và nhận định như sau: [1] Về pháp luật tố tụng dân sự: [2] Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con đối với ông T; địa chỉ: đường B, phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1, Điều 28, Điểm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Khoản 2, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. [4] Về pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của bà H về việc yêu cầu được ly hôn với ông T, Hội đồng xét xử nhận thấy: [6] Bà H và ông T đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72, quyển số 01/2006 ngày 27/6/2006 của Ủy ban nhân dân phường Q, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng với quy định tại Khoản 1, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [7] Bà H trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng bà thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, lối sống và cách ứng xử, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, chồng bà không quan tâm và không có trách nhiệm đối với vợ con. Hai bên đã tự hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống. Tòa án đã tiến hành xác minh đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Q, Quận G để tham khảo nhưng kết quả không thể hiện việc mâu thuẫn của vợ chồng bà H. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để vợ chồng bà H hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng bà H cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. [8] Mặt khác, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ, nhưng ông không đến Tòa giải quyết vụ án, ông cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của bà H và không đưa ra giải pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, chứng tỏ ông cũng không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà H và không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ gia đình. [9] Như vậy, ông T đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào Khoản 2, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì trình bày của bà H được thừa nhận mà không cần phải chứng minh. Xét thấy, hôn nhân giữa bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [10] Xét yêu cầu của bà H về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy: [11] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì ông T và bà H có 02 con chung tên Du Phương U, giới tính nữ, sinh ngày 26/11/2005 theo Giấy khai sinh số 173, quyển số 01/2006 ngày 26/7/2006 và Du Duy H2, giới tính nam, sinh ngày 03/4/2007 theo Giấy khai sinh số 98, quyển số 01/2007 ngày 31/5/2007. [12] Căn cứ vào Khoản 3, Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của 02 trẻ và 02 trẻ đã trình bày nguyện vọng mong muốn được sống cùng với mẹ là bà H. [13] Ngoài ra, bà H trình bày bà được mẹ đẻ là bà Nguyễn Phương P, sinh năm 1951 đã đồng ý cho mẹ con bà ở dài hạn tại nhà của mẹ bà để đảm bảo cho

các con của bà H ăn học, ổn định cuộc sống. Theo Giấy ủy quyền, số công chứng 00026617 ngày 22/8/2019 thể hiện bà Nguyễn Phương P (mẹ ruột bà H) ủy quyền cho bà H thực hiện một số thủ tục hành chính đối với căn nhà của bà P; tại Văn bản đồng ý của bà Nguyễn Phương P, số công chứng 00002454, quyển số 08-SCT/CK,CĐ ngày 22/8/2019 thì bà P đồng ý cho mẹ con bà H được ở và nhập hộ khẩu tại căn nhà của bà P (không có thỏa thuận về việc trả tiền); Theo Giấy xác nhận thu nhập của Công ty V xác nhận thu nhập của bà H thể hiện bà đang có công việc và thu nhập ổn định. [14] Xét thấy, bà H có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định, có đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục các con, hơn nữa việc tiếp tục giao các con chung cho bà H trực tiếp nuôi là cần thiết đảm bảo ổn định tâm lý, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con và đồng thời phù hợp với nguyện vọng của các con, mặt khác ông T cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của bà H. Do đó, yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung của bà H sau khi ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [15] Về cấp dưỡng: bà H tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [16] Về tài sản chung, nợ chung: bà H xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. [17] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. [18] Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí về tranh chấp hôn nhân và gia đình do nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 28, Điểm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39, Điều 91, Khoản 2, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Khoản 3, Điều 208, Khoản 2, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Khoản 1, Điều 9, Khoản 1, Điều 51, Khoản 1, Điều 53, Khoản 1, Điều 56, Điều 57, Điều 58, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H: - Về quan hệ hôn nhân: bà H được ly hôn với ông T. - Về con chung: giao 02 con chung tên Du Phương U, sinh ngày 26/11/2005 và Du Duy H2, sinh ngày 03/4/2007 cho bà H được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.

Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền, lợi ích hợp pháp của con, sau khi ly hôn các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. - Về tài sản chung, nợ chung: bà H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2018/0031267 ngày 18/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí sơ thẩm. 3. Về quyền kháng cáo: bà H, ông T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ