vanban.org

Bản án 691/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn ông Lê Phát A. Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Lê Phát A chấm dứt và Giấy chứng nhận kết hôn số 45 do Ủy ban nhân dân phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/4/2017 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN- LÊ PHÁT AN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 691/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 8 - 2019
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang

2. Bà Phạm Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Hà- Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019 về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: 559 Bình Th, phường 10, Quận 11, Thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Lê Phát A, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Số 118/46/4 Lê Trọng Tấn, phường T, quận Tân Phú, Thành phố H

(Bà H có mặt, ông A vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn- bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: Bà và ông Lê Phát A tự nguyện chung sống vào năm 2017, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 04/4/2017.

Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng thời gian 06 tháng nhưng sau đó hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do cách nghĩ và cách sống khác nhau do chênh lệch tuổi tác, thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được. Vợ chồng sống ly thân 01 năm nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể giải quyết được, vợ chồng không còn cuộc sống chung nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông A.

Về con chung: Bà xác nhận vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên hòa giải để các đương sự giải quyết ly hôn nhưng do bị đơn không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo quy định tại các Điều 21, 28, 35, 39, 48, 51, 63, 68, 70, 71, 72, 171, 173, 177, 220, 234, 239, 248, 260 Bộ luật tồ tụng dân sự năm 2015.

+ Việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 45 ngày 04/4/2017 do Ủy ban nhân dân phường T, quận Tân Phú Thành phố H cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông A là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do cách nghĩ và cách sống khác nhau vì chênh lệch tuổi tác, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc, ông bà đã sống ly thân 01 năm nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bà H xác nhận không còn tình cảm với ông A. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông A để đến Tòa giải quyết nhưng ông A vẫn không đến T để hòa giải, điều đó cho thấy ông A không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Như vậy có cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa bà H và ông A đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ vào Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 45 ngày 04/4/2017 do Ủy ban nhân dân phường T, quận Tân Phú Thành phố H cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông A là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận, nay bà H yêu cầu ly hôn, ông A hiện cư trú tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn- ông Lê Phát A: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, triệu tập ông A đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông A vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông A theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Về yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời trình bày của bà H và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện quá trình chung sống giữa ông bà mâu thuẫn phát sinh nguyên nhân chủ yếu là do cách nghĩ và cách sống khác nhau vì chênh lệch tuổi tác, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc, ông bà đã sống ly thân 01 năm nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay bà H xác nhận không còn tình cảm với ông A nên yêu cầu được ly hôn. Tòa án triệu tập ông A đến Tòa để tham gia phiên hòa giải nhưng ông A không đến mà không có lý do chính đáng, điều đó cho thấy ông A không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông A đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không còn cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015.

- Về quan hệ con chung: Bà H xác nhận vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Bà H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà H được Tòa án chấp nhận, nên bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn ông Lê Phát A.

Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Lê Phát A chấm dứt và Giấy chứng nhận kết hôn số 45 do Ủy ban nhân dân phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/4/2017 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật

- Về quan hệ con chung: Bà H xác nhận bà và ông A không có con chung.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H xác nhận không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000 đồng do bà Nguyễn Thị Mỹ H chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà H đã nộp theo Biên lai thu số 0012388 ngày 09/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Mỹ H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Phát A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ