vanban.org

Bản án 690/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương N:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương N được ly hôn với ông Nguyễn Hồng P. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 54/2013 ngày 22/4/2013 của Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ sơ hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương N:
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 690/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2023.
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Hoàng Việt.

2. Bà Trương Thị Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hoàng Vân Anh là Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 420/2023/TLST-HNGĐ ngày 25/7/2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 378/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 286/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương N, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ thường trú: Số B đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Cùng địa chỉ tạm trú: căn hộ U Chung cư C, Số D đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông P là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2013 ngày 22/4/2013 của Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, không hòa hợp, không có sự quan tâm đến nhau. Hai bên và gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không được. Do vợ chồng quá mâu thuẫn nên tháng 6/2023 bà N đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận A nhưng do chồng bà đang cư trú tại Quận G nên bà đã rút đơn ly hôn để nộp tại Tòa án nhân dân Quận G. Từ khi nộp đơn ly hôn đến nay thì mâu thẫn giữa vợ chồng bà không hề giảm mà càng gay gắt, trầm trọng và bà không thể tiếp tục chung sống với ông P được nữa. Nay bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được tình ly hôn với ông P để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Phương Mỹ H, sinh ngày 21/10/2013, Nguyễn Phương Mỹ U, sinh ngày 08/7/2017 và Nguyễn Hồng M, sinh ngày 17/5/2020. Bà N yêu cầu nuôi 3 con chung sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn - Ông Nguyễn Hồng P: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng dân sự:

Bà Nguyễn Thị Phương N khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con đối với bị đơn là ông Nguyễn Hồng P. Bị đơn cư trú tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Phương N yêu cầu ly hôn, nuôi con đối với ông Nguyễn Hồng P, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Nguyễn Thị Phương N và ông Nguyễn Hồng P là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2013 ngày 22/4/2013 của Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng với quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo bà N trình bày thì trong thời gian chung sống, vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, không hòa hợp trong cuộc sống, không có sự quan tâm đến nhau. Hai bên và gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không được. Do vợ chồng quá mâu thuẫn nên tháng 6/2023 bà N đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận A (bà Ngân nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0043625 ngày 05/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A) nhưng do chồng bà đang cư trú tại Quận 7 nên bà đã rút đơn ly hôn để nộp tại Tòa án nhân dân Quận 7, nhưng đến nay thì mâu thẫn giữa vợ chồng bà không hề giảm mà càng gay gắt, trầm trọng và bà không thể tiếp tục chung sống với ông P được nữa. Nay bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được tình ly hôn với ông P để ổn định cuộc sống.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để bà N đưa ra giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông P và đoàn tụ gia đình nhưng bà N cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông P.

Đối với ông P, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ, nhưng ông không đến Tòa giải quyết vụ án, ông đã đến Tòa án nhưng không có văn bản phản đối yêu cầu của bà N và không đưa ra giải pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, chứng tỏ ông P cũng không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà N và không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ gia đình.

Như vậy, mâu thuẫn giữa bà N và ông P đã xảy trong một thời gian dài nhưng hai bên không thể hàn gắn tình cảm, hơn nữa ông P cũng không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì trình bày của bà N được thừa nhận mà không cần phải chứng minh.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà N và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì bà N và ông P có 03 con chung tên Nguyễn Phương Mỹ H, sinh ngày 21/10/2013, Nguyễn Phương Mỹ U, sinh ngày 08/7/2017 và Nguyễn Hồng M, sinh ngày 17/5/2020. Bà N yêu cầu nuôi 3 con chung sau khi ly hôn.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của trẻ Nguyễn Phương Mỹ H và trẻ đã trình bày nguyện vọng muốn được sống cùng với mẹ vì trẻ hiện nay đang ở với mẹ, mẹ thường đưa trẻ đi học và nói chuyện với trẻ.

Tại hợp đồng lao động ký giữa bà N với Công ty T thì bà N làm việc với chức danh kinh doanh với mức lương ổn định và thêm phần trăm (%) kết quả công việc hằng tháng, như vậy bà N có công việc ổn định, có cơ hội thăng tiến để phát triển kinh tế của bản thân. Ngoài ra, bà N cung cấp Sổ phụ tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng B thể hiện từ tháng 5/2021 đến tháng 8/2023 đã phát sinh có nhiều khoản tiền.

Xét thấy, hiện các trẻ đang do bà N trực tiếp nuôi, bản thân bà N có đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục các con, hơn nữa việc giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi là cần thiết đảm bảo ổn định tâm lý, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con và đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con, mặt khác ông P cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của bà N. Do đó, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của bà N sau khi ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí về tranh chấp hôn nhân và gia đình do nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 93, 94, 144, 147, khoản 3 Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương N:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương N được ly hôn với ông Nguyễn Hồng P.

(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 54/2013 ngày 22/4/2013 của Ủy ban nhân dân phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh)

1.2. Về con chung: Giao 03 con chung tên Nguyễn Phương Mỹ H, sinh ngày 21/10/2013, Nguyễn Phương Mỹ U, sinh ngày 08/7/2017 và Nguyễn Hồng M, sinh ngày 17/5/2020 cho mẹ là bà N được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông Phát cấp dưỡng.

Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền, lợi ích hợp pháp của con, sau khi ly hôn các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà N phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0037098 ngày 25/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, như vậy bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bà N, ông P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nhận:

Cỡ chữ