- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A D - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2026/HS-ST Ngày 28 ngày 04 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Cầm Ngọc Thương
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Bình
Ông Lê Quốc Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 04 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 04 năm 2026. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:
Thào A D. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 28 tháng 02 năm 1983 tại xã Phiêng Cằm, tỉnh Sơn La. Số căn cước công dân: 014083014147.
Nơi đăng ký HKTT: Bản H N, xã Phiêng Cằm, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 0/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mông. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Thào Nhịa Sử đã chết; bà Hàng Thị Vang đã chết. Bị cáo có vợ là Giàng Thị Dua, bị cáo có 06 con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện chất ma túy, khoảng 18 giờ ngày 22/12/2025 Thào A D mang theo 50.000VNĐ đi bộ từ nhà đến khu vực đường dân sinh thuộc bản H N, xã Phiêng Cằm, tỉnh Sơn La (Cách nhà D khoảng 400m) mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây D gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ trông giống người nghiện ma túy. D hỏi mua 50.000VNĐ Heroine trộn lẫn hồng phiếng và đưa tiền cho người đàn ông nhận tiền và đưa cho D 01 gói được gói bằng vỏ kẹo Kopiko bên trong chứa chất bột Heroine trộn lẫn hồng phiến, D cầm gói ma túy đi bộ về nhà lấy một phần Heroine và Hồng phiến ra để sử dụng hết bằng hình thức đốt hít qua giấy bạc. Sau đó D ném mảnh giấy bạc vào bếp đốt cháy hết, phần ma túy còn lại D gói như ban đầu và cất vào túi quần đang mặc để sử dụng dần. Đến khoảng 22 giờ ngày cùng ngày D lấy gói ma túy ra ngồi bếp để chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác công an xã Phiêng Cằm phát hiện bắt quả tang, thu giữ gói ma túy nêu trên. Ngoài ra còn thu giữ của D 01 mảnh giấy bạc chưa qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu tím nhãn hiệu THONGNHAT
Ngày 23/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Thào A D, kết quả: Tổng khối lượng chất bột màu trắng và chất bột màu hồng là 0,45 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu T trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số 103/KL ngày 26/12/2025 của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma tuý; Loại Methamphetamine và Heroine (Heroin); Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là T = 0,45 gam.
Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKSKV4 ngày 07/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La đã truy tố bị cáo Thào A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bị cáo Thòa A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Thào A D từ 38 đến 42 tháng tù. Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu bên trong có 01 túi nilon nhiều màu sắc lại vỏ kẹo nhãn hiệu KOPIKO, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa Gas màu tím nhãn hiệu THONGNHAT
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo giữ nguyên các lời khai trong quá trình điều tra, nhất trí nội dung luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận do nghiện chất ma túy ngày 22/12/2025, bị cáo đã mang 50.000VNĐ đến bản H N, xã Phiêng Cằm tìm mua ma túy để sử dụng bị cáo gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết trông giống người nghiện bị cáo hỏi mua 50.000VNĐ người đàn ông nhận tiền và đưa ma túy cho bị cáo. Mua được ma túy bị cáo mang về nhà và lấy một phần Heroine và hồng phiến ra sử dụng phần còn lại bị cáo cất vào túi quần đang mặc để sử dụng dần. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày bị cáo lấy ma túy ra để sử dụng thì bị tổ công tác công an xã Phiêng Cằm bắt quả tang và thu giữ 0,45 gam Heroine và hồng phiến. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, không phát sinh tình tiết mới.
Như vậy, Cáo trạng số 19/CT-VKSMS ngày 07/04/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La là có căn cứ, đủ căn cứ kết luận bị cáo Thào A D đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét về tính chất:
Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành trái phép trên thị trường nhưng bị cáo đã cố tình mua, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ phần nào trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với tính chất và tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo bị thu giữ, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[5]Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, bị cáo sống cùng với gia đình, bản thân không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét xử phạt bổ sung đối với bị cáo Thào A D.
[6]Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu bên trong có 01 túi nilon nhiều màu sắc loại vỏ kẹo nhãn hiệu KOPIKO, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa Gas màu tím nhãn hiệu THONGNHAT. Xét thấy đây là vật liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy, Thào A D khai mua của đàn ông không quen biết tại bản H N, xã Phiêng Cằm, tỉnh Sơn La. Việc mua bán không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Đối với hành vi sử dụng trái phép Hồng phiến của Thào A D vào ngày 22/12/2025, quá trình điều tra xác định bị cáo không thuộc chủ thể quy định tại Điều 256a Luật số 86/2025/QH15 nên hành vi này của bị can không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy. Số ma túy bị cáo sử dụng nằm trong số ma túy bị cáo đã mua, cất giữ trái phép bị phát hiện thu giữ khi bắt quả tang. Do đó, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này của bị cáo.Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Thào A D là người thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có đề nghị xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Thào A D 40 ( Bốn mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 22/12/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu bên trong có 01 túi nilon nhiều màu sắc loại vỏ kẹo nhãn hiệu KOPIKO, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa Gas màu tím nhãn hiệu THONGNHAT
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/BB-CCTHADS giữa Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A D.
4. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Viện KSND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND khu vực 4 - Sơn La; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Phòng THADS khu vực 4 – Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Ngọc Thương |