- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công B - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2026/HS-PT Ngày 19 – 6 – 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Văn Thưởng;
2. Bà Cao Thị Thanh Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2026/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo Trần Công B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2026/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Công B, sinh ngày 21/3/1979 tại tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân: 064079001040; nơi cư trú: Thôn A, xã Y, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc H, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953; vợ: Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1985; con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 2007 và con nhỏ năm 2009.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 30/10/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng và ngày 11/11/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo đã nộp phạt xong các khoản tiền phạt nêu trên.
Nhân thân: Ngày 10/6/2019, bị Trưởng Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng và ngày 06/7/2020, bị Trưởng Công an phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo đã nộp phạt xong các khoản tiền phạt nêu trên.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/10/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 20 phút ngày 31/8/2025, Trần Công B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29L5-8265, nhãn hiệu Warer, màu sơn xanh đi từ nhà ở của mình tại thôn A, xã Y, tỉnh Gia Lai đi đến xã K và xã T, tỉnh Gia Lai để tìm kiếm nhà dân sơ hở trong quản lý tài sản, vào trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, B đi đến đoạn đường Đ thuộc thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai thì thấy nhà anh Vương Văn K không có ai ở nhà. B nhìn thấy hông nhà phía bên trái (hướng từ ngoài cổng vào) có để nhiều bao phân bón loại NPK Việt Nhật, nặng 50kg/bao, loại “JVF MÍA 1”, “15-15-15+TE”. B đi vào lấy trộm 03 bao phân bón bỏ lên xe mô tô rồi chở đi về hướng xã T. Khi đi đến đoạn đường Đ thuộc làng Đ, xã T thì bị Công an xã T phát hiện và yêu cầu về trụ sở Công an làm việc. Tại cơ quan Công an, B khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên, cơ quan Công an đã thu giữ 03 bao phân và xe mô tô để phục vụ công tác điều tra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTTHS ngày 13/10/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã K La kết luận giá trị của 03 bao phân bón nêu trên tại thời điểm ngày 31/8/2025 là 2.400.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã ra quyết định xử lý giao trả 03 bao phân trên cho anh Vương Văn K; anh K không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo B 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/3/2026, bị cáo B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; tại phiên toà, bị cáo B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo B, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong việc quản lý, bảo vệ tài sản, vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/8/2025 tại nhà anh Vương Văn K thuộc thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai, Trần Công B đã có hành vi trộm cắp 03 bao phân bón loại NPK Việt Nhật có tổng giá trị là 2.400.000 đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai đã xét xử bị cáo Trần Công B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần xử lý tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Công B, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại cũng đã có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuy vậy, bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 2019 đến năm 2024 liên tục bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nay lại tiếp tục phạm tội với tội danh nêu trên, thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, vi phạm pháp luật nhiều lần, không chịu sửa đổi dù đã từng bị nhắc nhở, xử lý hành chính.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo B 09 tháng tù là phù hợp, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Căn cứ quy định của Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo do bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo B, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Do kháng cáo không được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bị cáo B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo B, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo.
2. Xử phạt bị cáo Trần Công B 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Công B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND khu vực 14 – Gia Lai; - VKSND khu vực 14 – Gia Lai; - Phòng THADS khu vực 14 – Gia Lai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lưu Anh Tuấn |