vanban.org

Bản án 69/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 21/04/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Huỳnh Tấn H.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2026/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn H - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Huỳnh Tấn H.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2026/HS-PT
Ngày: 21 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông;

Ông Võ Ngọc Giàu.

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sátnhân dân tỉnh Đồng Tháptham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2026/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Huỳnh Tấn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:16/2026/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo:

Huỳnh Tấn H (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 04/02/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thẻ CCCD: 079087009608; Nơi cư trú: Số A ấp L, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn H1 và bà Trương Thị H2; Bị cáo có vợ Trần Thị Thúy H3 và có 01 người con; Tiền án: 05: Ngày 01/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm 6 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 07/HSST. (Chưa xóa án tích). Ngày 30/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành Phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm 6 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 47/HSST.Bản án Phúc thẩm số 683 ngày 22/11/2016 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án số 47/HSST. (Chưa xóa án tích). Ngày 18/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 02 năm 6 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 14/HSST. Bản án Phúc thẩm số 460 ngày 15/10/2018 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án số 14/HSST (Chưa xóa án tích). Ngày 27/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm 6 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 91/HSST. (Chưa xóa án tích). Ngày 05/01/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tuyên phạt 03 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 01/HSST theo điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự (tái phạm nguy hiểm). Bản án Phúc thẩm số 44/HSPT ngày 04/4/2023 của TAND tỉnh Tiền Giang giữ nguyên bản án số 01/HSST. (Chưa xóa án tích). Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05 tháng 9 năm 2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra bản án còn có 01 bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 31/8/2025, bị cáo Huỳnh Tấn H đi bộ trên đường bê tông thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp, khi H đi đến nhà anh Phan Văn D thì phát hiện nhà anh D đang mở cửa, trong sân nhà có xe môtô hai bánh hiệu Honda, loại Wave anpha màu đỏ đen biển số 63B7 – 639.69 (có sẵn chìa khóa) của chị Nguyễn Thị Thùy T, không có người trông coi nên H đi vào lấy trộm xe mô tô trên rồi dẫn ra tới cổng rào, bị cáo H lên xe mở chìa khoá, điều khiển xe chạy về hướng xã G, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến bến đò xã G, bị cáo H xuống đò mở yên xe lên kiểm tra nhưng không có giấy tờ xe hay tài sản gì khác. Bị cáo H chạy xe mô tô vừa trộm được đến khu vực cầu vượt A, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo H bán xe vừa trộm được cho 01 (một) người đàn ông (không rõ họ tên địa chỉ) với giá 2.500.000 đồng,lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 15 giờ ngày 01/09/2025, bị cáo H đón xe buýt quay lại chợ T1, xã T, tỉnh Đồng Tháp thì bị Công an xã T, tỉnh Đồng Tháp mời về trụ sở làm việc.

* Bản kết luận định giá tài sản số 1831/KL-HĐĐGTS ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Đồng Tháp: xe mô tô 63B7-639-69 tại thời điểm bị chiếm đoạt (31/8/2025) là 7.667.000 đồng

Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2026/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn H 05 (Năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản’’. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 05 tháng 9 năm 2025.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 31 tháng 01 năm 2026, bị cáo Huỳnh Tấn H kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Huỳnh Tấn H khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xử, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình vì vậy cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, về tình tiết định khung hình phạt “có tính chất chuyên nghiệp” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là chưa phù hợp bởi các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án không đủ cơ sở để khẳng định bị cáo thực hiện 05 lần phạm tội trộm cắp tài sản, lấy việc trộm cắp làm nguồn sống chính, thực hiện hành vi một cách liên tục như dấu hiệu pháp lý của “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” đòi hỏi. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn H, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo theo hướng: không áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173 BLHS, giảm cho bị cáo mức án từ 06 – 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tấn H đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản Bản án sơ thẩm đã xử, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 09 giờ ngày 31/8/2025 khi đang đi bộ trên đường bê tông thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp lợi dụng việc nhà anh D đang mở cửa bị cáo đã lẻn vào sân nhà và trộm 01 xe mô tô 02 bánh biển số 63B7 – 639.69, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha màu đỏ đen, trị giá 7.667.000 đồng của bị hại Nguyễn Thị Thùy T. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã có 5 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật vì vậy cần phải xử phạt mức án thật nghiêm khắc. Ngoài ra, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là phù hợp không nặng. Giai đoạn xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không bổ sung được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo. Cần thiết giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất chuyên nghiệp” là phù hợp nên được chấp nhận và điều chỉnh lại cho đúng. Đối với đề nghị giảm nhẹ hình phạt xét thấy tính chất mức độ hành vi của bị cáo xử phạt mức án 05 năm tù là không nặng nên không chấp nhận đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của Huỳnh Tấn H.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2026/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 05 tháng 9 năm 2025.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Huỳnh Tấn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ