- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị L và anh C"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69 /2025/ST-HNGĐ Ngày 17/9/2025 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thành; Bà Phạm Thị Anh .
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:31/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lô Thị L - sinh năm 1985 - Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lô Văn C - sinh năm 1982 - vắng mặt.
Đều trú tại: Làng Y, xã M, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Lô Thị L trình bày: Chị Lô Thị L và anh Lô Văn C kết hôn vào ngày 05/01/2003, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An ( nay là xã M, tỉnh Nghệ An), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, nguyên nhân do anh C hay uống rượu, tụ tập bạn bè, xúc phạm vợ, con cuộc sống lúc nào cũng căng thẳng, mệt mỏi. Từ năm 2017 chị L về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh C cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, chị L làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lô Văn C.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 người con chung Lô Thị L1 – sing ngày 30/3/2012, Lô Thị L2 – sinh ngày 02/3/2003, Lô Thị L3 – sinh ngày 09/8/2009. Nếu ly hôn, cháu L2 đã trưởng thành, chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 người con chung và không yều cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Lô Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị L không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Lô Văn C đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lô Thị L; Về con chung: Giao 02 người con chung Lô Thị L1 – sing ngày 30/3/2012, Lô Thị L3 – sinh ngày 09/8/2009 cho chị Lô Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Làng Y, xã M, huyện C (cũ), nay là Làng Y, xã M, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Lô Thị L và anh Lô Văn C tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (cũ), nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Nghệ An cho biết, sau khi kết hôn vợ chồng chị L sinh sống tại Làng Y, xã M, huyện C (cũ) nay là xã M, tỉnh Nghệ An. Quá trình sinh sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, đến năm 2017 anh C đi làm ăn ngoài địa phương thỉnh thoảng mới về nhà. Hiện tại anh C không có mặt ở địa phương đi đâu, làm gì, địa chỉ cụ thể thì chính quyền, địa phương không biết. Trước khi đi anh C không khai báo thủ tục cắt thường trú. Tại biên bản lấy lời khai bà Ngân Thị T - Trú tại Làng Y, xã M, tỉnh Nghệ An là mẹ đẻ của anh Lô Văn C cho biết, sau khi chị L và anh C kết hôn thì sinh sống tại gia đình bà một thời gian rồi làm nhà ra ở riêng, vợ chồng anh C thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, do anh C hay uống rượu, cờ bạc nên vợ chồng hay cãi vã, xúc phạm nhau đến năm 2017 vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, hiện tại anh C đi làm ăn thỉnh thoảng có gọi điện về thăm bà, còn địa chỉ cụ thể của anh C thì bà không biết. Bà T đã nhận toàn bộ các văn bản tố tụng Tòa án đến tống đạt cho anh C và cam đoan sẽ giao tận tay, hoặc thông tin cho anh C biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Như vậy, bị đơn anh Lô Văn C vắng mặt nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về và cũng không xác định được nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lô Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lô Văn C theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lô Văn C không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị Lô Thị L và anh Lô Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 05/01/2003, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (cũ), nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Lô Thị L và anh Vi Văn C1 là hợp pháp.Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng chị L và anh C1 phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị L và anh C1 đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh Lô Văn C vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị L và anh C có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh C không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Lô Thị L và anh Lô Văn C không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn cho chị Lô Thị L được ly hôn với anh Lô Văn C.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị L có 03 người con chung là Lô Thị L2 – sinh ngày 02/3/2003, Lô Thị L3 – sinh ngày 09/8/2009, Lô Thị L1 – sing ngày 30/3/2012, nếu ly hôn chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả 02 người con chung, cháu L2 đã trưởng thành và không yều cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh C không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh C nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị L là chính đáng, các cháu Lô Thị L1 có nguyện vọng được sinh sống cùng với mẹ, cháu Lô Thị L3 đang còn nhỏ cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao 02 người con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành.Về cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Lô Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lô Thị L phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lô Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị L được ly hôn với anh Lô Văn C và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 người con chung Lô Thị L3 – sinh ngày 09/8/2009, Lô Thị L1 – sing ngày 30/3/2012 cho chị Lô Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Lô Văn C có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị Lô Thị L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Lô Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000258 ngày 08/8/2025.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND khu vực 9; - THADS tỉnh Nghệ An; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã M; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Lữ Thị Dung |