- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Đinh Văn P được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST Ngày 23 - 9 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Dung. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Luận.
2. Bà Lương Thị Anh Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
Vào các ngày 04 và 23 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 132/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 2001 (Vắng mặt).
Bị đơn: Đinh Văn P, sinh năm 1999 (Vắng mặt).
Cùng địa ch : Ấp A, xã T, t nh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Đinh Văn P sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T năm 2020. Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Đinh Gia H, sinh ngày 11/7/2020 hiện đang sống chung với chị T; không có tài sản chung, không có nợ chung. Do bất đồng quan điểm không thể hàn gắn tình cảm được. Do đó, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Đinh Văn P.
- Về con chung: có 01 con chung tên Đinh Gia H, sinh ngày 11/7/2020 hiện đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đinh Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn có địa ch cư trú tại xã T nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Do vụ án này Tòa án không có tiến hành thu thập chứng cứ và cũng không thuộc các trường hợp phải có Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử mà không có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Về nội dung:
Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Đinh Văn P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T năm 2020. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Chị T yêu cầu ly hôn với anh P. Trong quá trình giải quyết vụ án anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và tại 02 lần phiên tòa sơ thẩm anh P cũng không có mặt. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị đơn là anh P đã biết việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn (niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định), nhưng bị đơn không có ý kiến, không phản đối yêu cầu của nguyên đơn và không đến theo giấy triệu tập và văn bản của Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Việc khởi kiện yêu cầu ly hôn chị T trình bày vợ chồng đã bất đồng quan điểm không hàn gắn được tình cảm. Nay chị T thấy mục đích của hôn nhân không đạt được nên kiên quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T kiên quyết ly hôn, anh P không có ý kiến gì về yêu cầu của chị T. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Cẩm T theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng chị T và anh P có 01 con chung tên Đinh Gia H, sinh ngày 11/7/2020 hiện đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu Gia H hiện đang sống chung với chị T nên giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, chị T là người khởi kiện phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000 đồng. Anh P không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Đinh Văn P được ly hôn.
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung Đinh Gia H, sinh ngày 11/7/2020 cho chị Nguyễn Thị Cẩm T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đinh Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp anh Đinh Văn P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Cẩm T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đinh Văn P.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0000928 ngày 25-7-2025 của Thi hành án dân sự t nh Đồng Tháp. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Đinh Văn P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND t nh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 12 – Đồng Tháp; - VKSND t nh Đồng Tháp; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - t nh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đ Th Th Dung |