- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Néang R- Chau T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hừng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Phượng
2. Bà Chế Thị Hồng Cẩm
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Việt là Thư ký Toà án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn: Ông Chau Pho Ly, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Néang R, sinh năm 1999 (xin xét vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ 07, ấp Rò Leng, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
2. Bị đơn: Chau Thai, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ G, ấp R, xã C, huyện T, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn ly hôn, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Néang Ra trình bày:
Bà R và ông T có thời gian quen biết tự nguyện tìm hiểu nhau, sau đó tổ chức lễ cưới và tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã C vào năm 2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Nay tình cảm không còn bà R kiên quyết ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Chau Pum P, sinh năm ngày 12/8/2014 tôi yêu cầu nuôi dưỡng con chung và thay đổi ý kiến không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Chau Thai vắng mặt trong suốt quá trình tiến hành tố tụng, không ghi nhận được ý kiến trình bày, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ và chấp hành đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Nhận thấy nguyên đơn và bị đơn chung sống có đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2022, do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng bất đồng quan điểm và cách sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau dẫn đến việc bà R kiên quyết ly hôn. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 28/3/2024 xác định giữa bà ra và ông T trong thời gian chung sống liên tục phát sinh mâu thuẫn cãi nhau, ông T liên tục vắng mặt các phiên hòa giải, xét xử của Tòa án, không tạo cơ hội để hòa giải với bà R tìm cách hàn gắn lại tình cảm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Chau Pum Pi S, sinh năm ngày 12/8/2014, bà R yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngày 15 tháng 2 năm 2024 bà N Ra có đơn yêu cầu ly hôn với ông Chau T1 và yêu cầu giải quyết về nuôi con, ông Chau T1 cư trú tại tổ G, ấp R, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất vào ngày 25/7/2024 bị đơn vắng mặt Tòa án đã hoãn phiên tòa theo Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 và tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý, riêng nguyên đơn phiên toà lần thứ nhất có mặt nhưng vắng mặt tại phiên toà hôm nay và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung: Bà T1 và ông R có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C vào ngày 05/5/2022 là quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân giữa bà R và ông T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng không thể hàn gắn được, bà R yêu cầu ly hôn. Trong suốt quá trình tiến hành tố tụng Toà án đã tạo điều kiện hoà giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T1 vắng mặt suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án là tự từ bỏ quyền lợi của mình. Xét về mâu thuẫn, bà R và ông T1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm, cách sống, hôn nhân nhưng không tìm được tiếng nói chung thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống chung ngày càng căng thẳng, điều này phù hợp với kết quả Biên bản xác minh ngày 28/3/2024. Do mâu thuẫn phát sinh trong mối quan hệ hôn nhân giữa bà R và ông T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà R là có căn cứ.
Về con chung: Bà R và ông T1 có 01con chung tên Chau Pum Pi S, sinh năm ngày 12/8/2014, bà R yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù với nguyện vọng của cháu Chau Pum Pi S, phù hợp với điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Chau Pum P và ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền thăm con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà R xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Bà Néang R1 phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo mức án phí không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Néang R1. Bà N Ra được ly hôn với ông Chau Thai .
Giấy chứng nhận kết hôn số 96/2022 ngày 05/5/2022 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Bà N Ra được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Chau Pum Pi S, sinh ngày 12/8/2014. Ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông T1 có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Chau P Pi Sa được sống chung với bà R1, tôn trọng quyền được trực tiếp nuôi con chung của bà R1.
Ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, bà R1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trường hợp ông T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con trên cơ sở vì lợi ích của con chung.
Về án phí sơ thẩm:
Bà Néang R1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012213 ngày 15-01-2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Bà Néang R1 đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tri Tôn; - THADS huyện Tri Tôn; - Các đương sự; - UBND xã Châu Lăng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hừng |