vanban.org

Bản án 69/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị H. T. T. T đối với anh Đ.

Về con chung: giao cháu Đ. G. B, sinh ngày 22/10/2020 cho chị H. T. T. T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H. T. T. T yêu cầu ly hôn với anh Đ. C. H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị H. T. T. T đối với anh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04 – 7 – 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Phạm Thị Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vương Văn Mum.

2. Bà Lê Thị Diễm.

- Thư ký phiên toà: bà Bùi Thị Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninhtham gia phiên tòa: ông Võ Trường Thọ – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị H. T. T. T, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: anh Đ. C. H, sinh năm 1998; địa chỉ: khu phố A, phường B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị H. T. T. T trình bày:

Chị và anh Đ. C. H chung sống vợ chồng từ năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng (nay là phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do mối quan hệ giữa chị và gia đình bên chồng không hòa thuận. Ngoài ra, thu nhập của hai vợ chồng không đủ trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa. Chị và anh H sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị và anh H không có ai đặt vấn đề đoàn tụ. Nay chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân với anh H không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: chị và anh H có 01 con chung tên Đ. G. B, sinh ngày 22/10/2020, hiện đang sống chung với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đ. G. B, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: chị T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Không có ai khác nợ lại hai vợ chồng.

Bị đơn – anh Đ. C. H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, triệu tập tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: căn cứ các điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị H. T. T. T đối với anh Đ. C. H. Về con chung, giao cháu Đ. G. B, sinh ngày 22/10/2020 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra giải quyết. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: nguyên đơn chị H. T. T. T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đ. C. H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gian phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H là phù hợp theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh H chung sống từ năm 2019, do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn năm 2019 tại tại Ủy ban nhân dân thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng (nay là phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Vì vậy, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T trình bày, anh, chị chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do mối quan hệ giữa chị và gia đình bên chồng không hòa thuận. Ngoài ra, anh, chị còn xảy ra mâu thuẫn về vấn đề kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh H chưa thực sự đến mức trầm trọng. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương thể hiện, trước đây, chị T và anh H sống chung với cha mẹ anh H nhưng hiện nay chị T và anh H không còn sống chung một nhà. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T và chị T cũng có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải cho anh, chị. Việc anh H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án chứng tỏ anh H không có thiện chí đoàn tụ, không còn tôn trọng và quan tâm đến quan hệ vợ chồng giữa anh và chị T. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị T và anh H không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: anh, chị chung sống có 01 con chung tên Đ. G. B, sinh ngày 22/10/2020, hiện đang sống chung với chị T. Xét yêu cầu được nuôi con của chị T thấy rằng, cháu B hiện đang còn nhỏ và đang sống ổn định với chị T từ lúc vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình cháu B sống với chị T, không có ai phản ánh gì về việc chị T có hành vi chăm sóc con không tốt. Do đó, cần giao cháu B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: chị T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị H. T. T. T đối với anh Đ. C. H. Chị H. T. T. T được ly hôn với anh Đ. C. H.

2. Về con chung: giao cháu Đ. G. B, sinh ngày 22/10/2020 cho chị H. T. T. T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về nợ chung: chị T trình bày không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Về án phí: chị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0014781 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị T đã nộp xong án phí.

6. Về quyền kháng cáo: chị T, anh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ