vanban.org

Bản án 69/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phan Văn N. Về con chung: Giao con chung tên Phan Nguyễn Trọng B, sinh ngày 01/3/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 9 - 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tuyển;

Ông Trương Trọng Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/8/2024, giữa:

- B đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên;

- Bị đơn: Anh Phan Văn N, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.

(B đơn, người làm chứng có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* B đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phan Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Y (Nay là UBND thị trấn P) vào năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh N sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp tính, thường xuyên cãi nhau. Sự việc kéo dài, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đạt kết quả. Từ năm 2022, hai bên nhận thấy không thể chung sống với nhau được nữa nên đã tự sống riêng; không ai còn quan tâm đến ai.

Nhận thấy tình cảm đã hết, trên thực tế vợ chồng sống xa nhau đã lâu nên chị T xin được ly hôn anh N.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Nguyễn Trọng B, sinh ngày 01/3/2012, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Chị T xin được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị T không yêu cầu gì khác.

*Bị đơn anh Phan Thanh N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có bản trình bày ý kiến, không đến Tòa nên không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Áp dụng Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T, anh Phan Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y (nay là UBND thị trấn P), huyện T, tỉnh Phú Yên vào ngày 03/5/2012 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Chị T khai trong quá trình chung sống, hai bên có mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, đã tự sống riêng từ năm 2022 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Người làm chứng Nguyễn Thị C khai vợ chồng chị T, anh N có mâu thuẫn, chung sống không hạnh phúc, đã tự sống riêng, không ai còn quan tâm đến ai là sự thật.

Mặt khác, anh N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa, không có ý kiến gì phản bác lại yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Như vậy, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T, anh N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phan Thanh N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Nguyễn Trọng B, sinh ngày 01/3/2012.

Xét: Từ khi hai bên sống xa nhau, con chung do chị Tnuôi dưỡng, đã quen sống cùng chị T; cháu B có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng T. Do đó, để cháu B phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giao con chung Nguyễn Trọng B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T làm nghề buôn bán, có sức khỏe, thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi con và chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không buộc anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí về yêu cầu xin ly hôn: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phan Văn N.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phan Nguyễn Trọng B, sinh ngày 01/3/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Phan Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị T phải chịu: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000851 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, chị Nguyễn Thị T đã nộp xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ