vanban.org

Bản án 69/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị Nhung, cho chị Nhung được ly hôn anh Mai Văn An.

Về con: Giao cháu Mai Phạm Phương Anh, sinh ngày 02/7/2012 cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng; anh An không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Chị Phạm Thị Nhung phải chịu án phí DSST về việc ly … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị N-Mai văn A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị Nhung, cho chị Nhung được ly hôn anh Mai Văn An.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-11-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thoa

2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa:

Bà: Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXX-ST, ngày 16 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Nhung - Sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn Nghi Vịnh, xã Nga Vinh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2/ Bị đơn: Anh Mai Văn An - Sinh năm 1988

HKTT: Thôn Hợp Long 2, xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: 80/1/17 Duy Tân, tổ dân phố số 30, khu phố 3, phường 15, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30/8/2024, bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thị Nhung trình bày: chị và anh Mai Văn An kết hôn với nhau vào ngày 04/11/2011, trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Nga Vịnh cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị và anh An đã sống ly thân từ đầu năm 2013 đến nay. Xét thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, chị đề nghị được ly hôn anh An theo quy định; về con: vợ chồng có 01 con chung là Mai Phạm Phương Anh, sinh ngày 02/7/2012. Hiện tại cháu Phương Anh đang ở cùng chị. Sau ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con; không yêu cầu anh An phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Mai Văn An trình bày: về hôn nhân: anh thống nhất như nội dung chị Nhung trình bày về thời gian kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian sống ly thân. Chị Nhung đề nghị ly hôn, anh hoàn toàn đồng ý. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Mai Phạm Phương Anh, sinh ngày 02/7/2012. Cháu Phương Anh hiện tại đang sinh sống cùng chị Phương. Sau ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng. Anh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh An vắng mặt, có đơn xin hoà giải vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Toà án không tiến hành hòa giải được.Vì vậy, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nhung và anh An đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Nhung, anh An vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu. Căn cứ quy định Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Nhung, anh An.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quy định của BLTTDS; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Nhung, cho chị Nhung được ly hôn anh An. Về con: giao cháu Mai Phạm Phương Anh, sinh ngày 02/7/2012 cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng. Anh An không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị Nhung phải chịu án phí DSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Mai Văn An có đơn thỏa thuận chọn Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa để giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Nhung. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Nhung và anh Mai Văn An kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Theo các đương sự trình bày: sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau đến đầu năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: do quan điểm sống không còn phù hợp, cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị Nhung, anh An không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Chị Nhung đề nghị ly hôn, anh An cũng nhất trí. Xét cuộc sống chung của chị Nhung, anh An đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nhau, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Nhung, cho chị Nhung ly hôn anh An là phù hợp quy định của pháp luật.

Về con: vợ chồng có 01 con chung là Mai Phạm Phương Anh, sinh ngày 02/7/2012. Sau ly hôn, các đương sự đều đề nghị giao cháu Phương Anh cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng; chị Nhung không yêu cầu anh An phải cấp dưỡng nuôi con; anh An đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

Xét yêu cầu của của các đương sự đề nghị giao cháu Phương Anh cho chị Nhung nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện. Qua xác minh tại UBND xã Nga Vịnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa thì cháu Phương Anh đang sinh sống cùng chị Nhung tại xã Nga Vịnh. Để cuộc sống của cháu Phương Anh được ổn định nên giao cháu cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp thực tế cũng như quy định pháp luật.

* Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nhung không yêu cầu anh An phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên HĐXX miễn xét.

Về tài sản: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Nhung phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị Nhung, cho chị Nhung được ly hôn anh Mai Văn An.

2. Về con: Giao cháu Mai Phạm Phương Anh, sinh ngày 02/7/2012 cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng; anh An không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Nhung phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu, ký hiệu BLTU/23, số 0005440, ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Nhung đã nộp đủ án phí DSST.

4. Quyền kháng cáo: Chị Nhung, anh An có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Thoa

Nguyễn Văn Quản

Lê Thị Huệ

Cỡ chữ