vanban.org

Bản án 69/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thanh T và anh Bùi Văn L là vợ chồng. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trúc+Lành"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01-8-2024
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng,
tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hoàng Điệt.

Ông Nguyễn Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh T;

Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Bùi Văn L;

Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 5 năm 2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh T và anh Bùi Văn L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hôn nhân của vợ chồng anh chị được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng thời gian về sau vợ chồng anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng anh chị bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân từ đó dẫn đến vợ chồng anh chị thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị nhiều lần hàn gắn tình vợ chồng nhưng không được, sau đó anh Lbỏ nhà đi theo người phụ nữ khác. Nay chị Tnhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chị Tyêu cầu Toà án giải quyết không công nhận giữa chị T và anh Lvợ chồng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Nguyễn Thanh T và anh Bùi Văn L có 02 (hai) người con chung là Bùi Hoàng P (Nam, sinh ngày 01/01/1998), Bùi Thị Mỹ N (Nữ, sinh ngày 10/01/2007). Sau khi ly hôn chị Tyêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Mỹ N (Nữ, sinh ngày 10/01/2007) cho đến khi cháu N đủ 18 (mười tám) tuổi. Đối với cháu Bùi Hoàng P (Nam, sinh ngày 01/01/1998) hiện nay đã đủ 18 (mười tám) tuổi, có công việc làm ổn định nên chị T không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tkhông yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Thị Mỹ N(Nữ, sinh ngày 10/01/2007) vì hiện nay chị Tcó khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Nhân.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Bùi Văn L: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T tại Thông báo thụ lý vụ án số: 264/TB-TLVA, ngày 10 tháng 6 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Bùi Văn L, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Lđến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Lđều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Lnhưng anh Lkhông gửi văn bản ghi ý kiến của anh Lđối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Nguyễn Thanh T.

Tại Biên bản ghi ý kiến nguyện vọng con chưa thành niên của cháu Bùi Thị Mỹ N (Nữ, sinh ngày 10/01/2007) cháu Nhân trình bày: Hiện nay cháu Nhân đang sống cùng với mẹ ruột là chị Nguyễn Thanh T, nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau thì cháu Nhân có nguyện vọng được được sống với mẹ là chị Nguyễn Thanh T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Bùi Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con giữa chị Nguyễn Thanh T và bị đơn anh Bùi Văn L cư trú tại ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 7, 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh T và anh Bùi Văn L xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống theo chị Ttrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị Tvà anh Lhiện đã sống ly thân, khi chị Tvà anh Lsống ly thân thì anh chị không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Nay chị Nguyễn Thanh T yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thanh T và anh Bùi Văn L là vợ chồng.

Xét thấy, chị Nguyễn Thanh T và anh Bùi Văn L sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 1997 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Mặc khác, theo điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Nên việc chị Nguyễn Thanh T yêu cầu không công nhận quan hệ giữa chị Tvà anh Llà vợ chồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thanh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thị Mỹ N(Nữ, sinh ngày 10/01/2007) cho đến khi cháu Nhân đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị Tvà anh Lsống ly thân cho đến nay thì cháu Nhân đều do chị Ttrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Nhân thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ là chị Nguyễn Thanh T.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Nhân nên việc giao cháu Bùi Thị Mỹ N(Nữ, sinh ngày 10/01/2007) cho chị Nguyễn Thanh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Bùi Thị Mỹ N(Nữ, sinh ngày 10/01/2007) cho chị Ttiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nhân đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Bùi Văn L được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Lthực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Bùi Văn L là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Tcho rằng hiện nay chị có công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị Tđảm bảo nên chị Tcó khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng cháu Nhân nên chị Ttự nguyện không yêu cầu anh Lcấp dưỡng nuôi cháu Bùi Thị Mỹ N(Nữ, sinh ngày 10/01/2007). Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 7, 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thanh T và anh Bùi Văn L là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung:

2.1 Giao con chung tên Bùi Thị Mỹ N (Nữ, sinh ngày 10/01/2007) cho chị Nguyễn Thanh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 (mười tám) tuổi. Đối với cháu Bùi Hoàng P (Nam, sinh ngày 01/01/1998), hiện nay đủ 18 (mười tám) tuổi và có công việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thanh T tự khai có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Mỹ N (Nữ, sinh ngày 10/01/2007) và tự nguyện không yêu cầu anh Bùi Văn L cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Thị Mỹ N (Nữ, sinh ngày 10/01/2007) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2.3 Sau khi ly hôn, anh Bùi Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Bùi Thị Mỹ N (Nữ, sinh ngày 10/01/2007), chị Nguyễn Thanh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Bùi Văn L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thanh T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo biên lai thu tiền số 0005667 ngày 07 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ