vanban.org

Bản án 69/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Phương Đông - Dương Văn Đệ"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/DS- ST
Ngày 19/9/2024
(V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản)
[

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU

V i th nh h n i đồng t sơ th m gồm c :

Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích

Các h i th m nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng và ông Nguyễn Văn Tâm

Th k hi n t a: Bà Đỗ Thị An – Thư ký T a án nhân dân huy n Đ H, t nh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở T a án nhân dân huy n Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 229/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về vi c “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phương Đông

Địa ch : số 41&45 đường Lê Duẩn, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại di n theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại di n theo ủy quyền: Bà Trần Cẩm T – Chức vụ: Giám đốc tín dụng - Ph ng giao dịch Đ H.

Bà Trần Cẩm T ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Trần Chí L – chuyên viên thu hồi nợ, Ngân hàng TMCP Phương Đông.

Bị đơn: Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1977

Địa ch : ấp Gò C, xã Điền H, huy n Đ H, Bạc Liêu

(Anh L, anh Đ có mặt)

NỘI DUNG VỤ N

Theo đơn khởi ki n ngày 06/6/2024 và trong quá trình tố tụng ông Trần Chí L đại di n cho nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:

Anh Dương Văn Đ đã thỏa thuận ký kết giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng vào ngày 07/04/2022. Số tiền vay: 80.000.000 đồng (Tám mươi tri u đồng). Mục đích vay: mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Thời hạn vay: 60 tháng. Lãi suất vay: 30 / năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150 lãi suất vay trong hạn. Sau khi ký kết Hợp đồng, Ngân hàng đã cấp hạn mức và thực hi n giải ngân số tiền vay nêu trên cho anh Đ. Vào ngày 16/12/2023 anh Đ có giao dịch bằng thẻ số tiền 49.462.800 đồng và số tiền 30.284.200 đồng với Công ty cổ phần thương mại Hà Nội. Tổng cộng 02 lần giao dịch là 79.747.000 đồng, hình thức là thanh toán trực tuyến.

Ngày 11/3/2024 thì anh Đ có thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.392.410 đồng. Sau đó thì không thanh toán nữa. Quá trình thực hi n hợp đồng, anh Dương Văn Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở - yêu cầu thực hi n nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến anh Dương Văn Đ vẫn không thanh toán nợ vay cho ngân hàng. Tổng nợ của anh Dương Văn Đ tại Ngân hàng phát sinh từ Hợp đồng tạm tính đến ngày 14/08/2024 là 91.105.368 đồng (nợ gốc : 77.354.590 đồng, nợ lãi trong hạn: 12.650.778 đồng; nợ lãi phạt quá hạn: 1.100.000 đồng) số ngày nợ quá hạn : 155 ngày. Nay Ngân hàng yêu cầu anh Dương Văn Đ trả cho Ngân hàng TMCP Phương Đông tổng số nợ tạm tính đến ngày 14/08/2024 là 91.105.368 đồng (nợ gốc : 77.354.590 đồng, nợ lãi trong hạn: 12.650.778 đồng; nợ lãi phạt quá hạn: 1.100.000 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 15/08/2024 cho đến khi anh Dương Văn Đ hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP Phương Đông.

Bị đơn anh Dương Văn Đ trình bày: Do anh kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa nên anh có mở tài khoản tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông-Ph ng giao dịch Đ H để thuận ti n vi c chuyển tiền, nhận tiền với khách hàng. Quá trình giao dịch anh không mở thẻ vì anh giao dịch trực tiếp tại ph ng giao dịch hoặc trên đi n thoại.

Ngày 07/4/2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông - Phòng giao dịch Đ H đề nghị mở thẻ tín dụng cho anh để nhân viên đạt ch tiêu mở thẻ. Anh có ký nhận hợp đồng mở thẻ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông - phòng giao dịch Gành Hào. Khi đề nghị mở thẻ tín dụng, nhân viên Ngân hàng cho anh biết trong thẻ có 80.000.000 đồng, trường hợp cần rút tiền thì rút xài nhưng sau đó phải nộp lại ngay nếu không sẽ tính lãi rất cao. Tuy nhiên, sau khi có thẻ thì anh không sử dụng thẻ để rút tiền lần nào cả.

Năm 2023, có người đi n thoại cho anh nói là nhân viên Ngân hàng Phương Đông thông báo thẻ tín dụng của anh đã hết hạn nên yêu cầu anh đọc mã số mới gửi đến đi n thoại của anh để mở lại thẻ nên anh đã đọc số cho người này.

Khoảng một tháng sau đó, một người cũng xưng là nhân viên Ngân hàng Phương Đông đi n yêu cầu anh trả tiền đã rút trong thẻ tín dụng. Trên mặt giấy tờ anh là người mở thẻ, anh không từ bỏ trách nhi m của người chủ thẻ nhưng anh ch đồng ý trả theo yêu cầu của Ngân hàng trường hợp ngân hàng chứng minh được anh rút tiền khi nào và rút tại đâu. Nay ngân hàng khởi ki n yêu cầu anh trả số tiền trên thì anh không đồng ý.

Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Đ H tham gia phiên t a phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đại di n nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Anh Dương Văn Đ có mở thẻ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông. Sau khi phát hành thẻ thì ngày 16/12/2023 anh Đ có giao dịch bằng thẻ số tiền 49.462.800 đồng và số tiền 30.284.200 đồng với Công ty cổ phần thương mại Hà Nội. Tổng cộng 02 lần giao dịch là 79.747.000 đồng, hình thức là thanh toán trực tuyến. Anh Đ cũng thừa nhận có ký tên trong hợp đồng, vi c anh Đ ký hợp đồng với Ngân hàng là hoàn toàn tự nguy n, không ai ép buộc và có đầy đủ năng lực trách nhi m dân sự nên anh phải chịu trách nhi m cho hành vi của mình. Do đó, căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng đối với anh Đ.

Về án phí: Buộc anh Dương Văn Đ phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, trên cơ sở phát biểu của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Đ H, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông khởi ki n về vi c tranh chấp hợp đồng vay tài sản với anh Đ, anh Đ có địa ch cư trú tại huy n Đ H. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huy n Đ H.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông yêu cầu anh Đ phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền vay là 91.105.368 đồng. Giữa Ngân hàng và anh Đ đã ký kết thỏa thuận ký kết giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, anh Đ vay số tiền là 80.000.000 đồng, mục đích vay mua hàng trực tiếp, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ taị cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, thời hạn vay 60 tháng. Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã cấp hạn mức và giải ngân cho anh Đ số tiền 80.000.000 đồng. Ngày 16/12/2023 anh Đ có giao dịch bằng thẻ số tiền 49.462.800 đồng và số tiền 30.284.200 đồng với Công ty cổ phần thương mại Hà Nội. Tổng cộng 02 lần giao dịch là 79.747.000 đồng, hình thức là thanh toán trực tuyến.

Ngân hàng cung cấp giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng có chữ ký của anh Đ. Anh Đ thừa nhận có ký hợp đồng mở thẻ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông - ph ng giao dịch Gành Hào. Vi c anh Đ ký thỏa thuận mở thẻ là hoàn toàn tự nguy n, không ai ép buộc. Vi canh Đ cho rằng không rút tiền mà do người khác đã thực hi n hành vi lừa đảo để rút tiền trong thẻ của anh nhưng anh không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ, mặc khác khi nhận thẻ tín dụng cán bộ Ngân hàng cũng đã giải thích vi c sử dụng thẻ, bảo quản thẻ nhưng anh Đ lại cung cấp mã sử dụng thẻ cho người khác nên phải chịu trách nhi m cho hành vi của mình. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình thực hi n hợp đồng anh Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký kết, nên căn cứ vào Điều Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Đ có nghĩa vụ nộp 91,105,368 đồng x5% = 4.555.000 đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Phương Đông tiền tạm ứng án phí 2.147.700 đồng theo biên lai thu số 0010449 ngày 12/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huy n Đ H.

Quan điểm của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Đ H tại phiên t a về nội dung vụ án phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các l trên;

UY T ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí T a án;

1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng TMCP Phương Đông đối với anh Dương Văn Đ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc anh Dương Văn Đ trả cho Ngân hàng TMCP Phương Đông số tiền tính đến ngày 14/08/2024 là 91.105.368 đồng (trong đó: Nợ gốc: 77.354.590 đồng, nợ lãi trong hạn: 12.650.778 đồng; nợ lãi phạt quá hạn: 1.100.000 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 15/08/2024 cho đến khi anh Dương Văn Đ hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng.

2/. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Dương Văn Đ có nghĩa vụ nộp số tiền 4.555.000 đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Phương Đông tiền tạm ứng án phí 2.147.700 đồng theo biên lai thu số 0010449 ngày 12/7/2024. Các đương sự nhận và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huy n Đ H.

3/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ