vanban.org

Bản án 69/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vƣơng Văn L phạm tội“Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Vƣơng Văn L 28 (Hai mươi tám ) tháng tù . Thời hạn chấp hành tù được tính từ ngày 20/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn L bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vƣơng Văn L phạm tội“Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69 /2023/HSST
Ngày: 28/7/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vƣơng Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 01/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HS ngày 10/7/2023 đối với bị cáo:

Vƣơng Văn L, sinh năm 2003; nơi ĐKHKTT: Thôn HP, xã HS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: Thôn ĐQ, xã HS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn P, sinh năm 1982 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1983; vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/9/2021, TAND huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/5/2022, ngày 29/9/2021 đã nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Thời điểm phạm tội, L chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự (BLHS) thì được coi là không có án tích.

Danh chỉ bản số 301 do Công an huyện Chương Mỹ lập ngày 05/5/2023; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2023, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an TP. Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975 (có đơn xin xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Số nhà 95, tổ 3, TDP TX, thị trấn XM, huyện CM, Thành phố Hà Nội.

2. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: TDP TB, thị trấn XM, huyện CM, Thành phố Hà Nội.

Nơi ở hiện tại: Số nhà 18, tổ 4, TDP XH, thị trấn XM, huyện CM, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vương Văn L là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên thường xuyên đi bộ một mình tìm nhà người dân có sơ hở trong quản lý tài sản, không có người trông giữ để trộm cắp tài sản. Bằng hình thức trên, trong các ngày 21/11/2022 và ngày 13/4/2023, Vương Văn L đã trộm cắp tài sản tại khu vực TT XM, huyện CM, TP Hà Nội.

Cụ thể:

* Lần thứ nhất:

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 21/11/2022, Vương Văn L phát hiện cổng, cửa nhà chị Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1975) tại TDP TX, TT XM, huyện CM, TP Hà Nội) mở, không có ai trông coi nên đã lén lút đột nhập vào trong nhà và trộm cắp được 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax (bên trong gắn sim số 0976977658), đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc túi xách bên trong có chứa đồ trang điểm cá nhân của phụ nữ. Khi rời khỏi hiện trường, L kiểm tra thấy bên trong chiếc túi xách không có tài sản gì giá trị nên L đã vứt chiếc túi này tại bãi đất trống gần nhà chị T1.

Sau đó, L mang 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell đã trộm cắp được đến quán Internet thuộc khu vực quận HĐ, TP Hà Nội (L không nhớ bán cho ai, địa chỉ cụ thể ở đâu) bán được số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Số tiền này, L đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/4/2023, chị Nguyễn Thị T1 đã đến Công an TT XM thuộc Công an huyện Chương Mỹ trình báo việc bị mất tài sản vào ngày 21/11/2022. Đến ngày 21/4/2023, chị T1 đã tự nguyện giao nộp 01 (một) Hóa đơn kiêm phiếu bảo hành và 01 (một) chiếc túi xách thời trang nữ chị T1 nhặt được ở bãi đất trống gần nhà để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐG ngày 04/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Chƣơng Mỹ, kết luận:

“ Hội đồng định giá tài sản theo hồ sơ tài liệu Công an huyện Chương Mỹ cung cấp: Hóa đơn kiêm phiếu bảo hành của cửa hàng Thiên Trường Mobile số 73 Bắc Sơn, TT Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội; Phiếu bán hàng - bảo hành của cửa hàng máy tính Ninh Nga, địa chỉ Km21-QL6A-Chúc Sơn, Chương Mỹ, TP Hà Nội; biên bản ghi lời khai và tham khảo giá thị trường tại thời điểm tháng 11/2022 như sau:

- 01 (một) chiếc laptop nhãn hiệu Dell, màu trắng bạc, mua cũ năm 2021, cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 11/2022 có giá trị là: 2.500.000đ.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 promax, 64Gb, màu xanh xám, mua cũ tháng 3/2022. Tại thời điểm tháng 11/2022 có giá trị là: 7.000.000đ.

- 01 chiếc thẻ sim viettel số thuê bao 0976977658, tài khoản 0 đồng. Tại thời điểm tháng 11/2022 có giá trị là: 100.000đ.

- 01 chiếc túi xách phụ nữ màu ghi xám, mua năm 2019. Tại thời điểm tháng 11/2022 có giá trị: 50.000đ.

Tổng cộng: (2.500.000+ 7.000.000+ 100.000+ 50.000) = 9.650.000đồng.

Số tiền bằng chữ: Chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng.”

* Lần thứ hai:

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 13/4/2023, Vương Văn L đi bộ một mình đến khu chợ thuộc TDP XH, TT XM, huyện CM, TP Hà Nội thì phát hiện cổng nhà chị Nguyễn Thị Q (sinh năm 1990; trú tại TDP XH, TT XM, huyện CM, TP Hà Nội) mở, không có ai trông coi. Thấy có sơ hở, L đi vào tầng 2 của ngôi nhà thì không thấy có tài sản gì trộm cắp được nên L tiếp tục đi lên tầng 3, vào phòng ngủ đang mở cửa. Khi vào phòng, L nhìn thấy 01 chiếc túi xách cũ để trên bàn, L kiểm tra không thấy có tài sản gì bên trong nên L đi đến chiếc bàn kê sát tường, kéo ngăn tủ dưới bàn ra thì thấy 03 (ba) tập tiền VNĐ đều là tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành) được bó riêng bằng dây chun. L dùng tay phải cầm 03 tập tiền trên bỏ vào túi quần sau bên phải đang mặc rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi nhà chị Q. Tổng số tiền L chiếm đoạt của chị Q là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).

Ngày 19/4/2023, biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của bản thân, L đã tự nguyện trả lại số tiền 28 triệu đồng đã trộm cắp cho chị Q. Cùng ngày, chị Q đến Công an TT XM trình báo sự việc và giao nộp 01 USB chứa 01 (một) đoạn videoclip dài 46 giây ghi lại hình ảnh nam thanh niên đột nhập vào nhà chị Q ngày 13/4/2023 để phục vụ công tác điều tra.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/4/2023, Vương Văn L đã đến Công an TT XM thuộc Công an huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tang vật thu giữ:

- Số tiền 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành do chị Q tự nguyện giao nộp.

- 01 (một) chiếc túi xách màu ghi xám, 01 quai đeo, KT (20 x 14 x 7) cm, bên trong có 05 ngăn nhỏ) do chị T1 tự nguyện giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng): Cơ quan điều tra xác định số tiền nêu trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Q. Chị Q có đơn xin lại tài sản để quản lý, sử dụng. Ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định xử lý vật chứng số 35/QĐ-CQĐT trả lại số tài sản cho chị Q. Chị Q đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu L bồi thường gì khác về dân sự.

Đối với 01 (một) chiếc túi xách màu ghi xám: Cơ quan điều tra xác định chiếc túi xách trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T1. Chị T1 có đơn xin lại tài sản để quản lý, sử dụng. Ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định xử lý vật chứng số 35/QĐ-CQĐT trả lại số tài sản cho chị T1. Chị T1 đã nhận lại chiếc túi xách và yêu cầu L bồi thường số tiền 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng). Đến nay L chưa bồi thường gì cho chị T1.

Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 27/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Vƣơng Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS 2015).

Tại phiên toà:

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015, xử phạt Vƣơng Văn L từ 24 đến 30 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Chị Q đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên không xem xét. Đối với chị Nguyễn Thị T1, trong quá trình điều tra, chị yêu cầu bị cáo Vương Văn L phải bồi thường số tiền 9.600.000 đồng. Buộc bị cáo L phải bồi thường thiệt hại cho chị T1 theo yêu cầu là 9.600.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Xét thấy bị hại đã được triệu tập hợp lệ, chị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Q vắng mặt không có lý do. Trong quá trình điều tra những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 21/11/2022 và ngày 13/4/2023, trên địa bàn TT XM, huyện CM, TP Hà Nội, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, Vương Văn L đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản chiếm đoạt 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 Promax; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell và 01 túi xách của chị Nguyễn Thị T1; số tiền 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng) của chị Nguyễn Thị Q. Tổng giá trị tài sản Vương Văn L chiếm đoạt trong 02 lần phạm tội trên là 37.650.000 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của Vƣơng Văn L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Vƣơng Văn L theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo 02 lần phạm tội tình tiết tăng năng quy định điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; “Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” và “Đầu thú” là các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 được Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần trách nhiệm cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng): Cơ quan điều tra xác định số tiền nêu trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Q. Chị Q có đơn xin lại tài sản để quản lý, sử dụng. Ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định xử lý vật chứng số 35/QĐ-CQĐT trả lại số tài sản cho chị Q. Chị Q đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu L bồi thường gì khác về dân sự.

- Đối với 01 (một) chiếc túi xách màu ghi xám: Cơ quan điều tra xác định chiếc túi xách trên là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T1. Chị T1 có đơn xin lại tài sản để quản lý, sử dụng. Ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định xử lý vật chứng số 35/QĐ-CQĐT trả lại số tài sản cho chị T1 là phù hợp.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax (bên trong gắn sim số 0976977658), đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, đã qua sử dụng do L trộm cắp của chị Nguyễn Thị T1. L đã đem các tài sản này đến quán Internet thuộc khu vực quận HĐ, TP Hà Nội (L không nhớ bán cho ai, địa chỉ cụ thể ở đâu) bán được số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Các tài sản này không thể thu hồi lại được. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, chị Nguyễn Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu Vương Văn L phải bồi thường số tiền 9.600.000 đồng. Yêu cầu bồi thương của chị T1 phù hợp với Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐG ngày 04/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Chương Mỹ nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Vƣơng Văn L phạm tội“Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:

Vƣơng Văn L 28 (Hai mươi tám ) tháng tù . Thời hạn chấp hành tù được tính từ ngày 20/4/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Vương Văn L phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị T1 số tiền 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm nghìn đồng).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm 480.000 đồng tiền án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tp. Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;

- VKSND huyện Chương Mỹ;

- Công an huyện Chương Mỹ;

- Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;

Đã ký

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng khác;

- THAHS;

Vƣơng Đăng Khoa

- Lưu HS;VP.

Cỡ chữ